Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương logo

YÊU CẦU MỚI TRONG XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO, NHỮNG VẤN ĐỀ PHÁP LÝ CẦN LƯU Ý TRONG THỰC TẾ XÂY DỰNG CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO CỦA TRƯỜNG ĐHSP NGHỆ THUẬT TW

Từ tháng 6 đến tháng 7 năm 2026, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành hai văn bản quan trọng, tác động trực tiếp đến công tác xây dựng, rà soát chương trình đào tạo (CTĐT) tại các cơ sở giáo dục đại học: Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT ngày 30/6/2026 quy định chuẩn chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học, và Thông tư số 62/2026/TT-BGDĐT ngày 28/7/2026 quy định quy trình biên soạn, ban hành chương trình, giáo trình dạy và học các môn học, học phần bắt buộc sử dụng chung. Bài viết tổng hợp những điểm cần lưu ý của hai văn bản này và những vấn đề pháp lý đặt ra trong thực tế xây dựng chương trình đào tạo tại Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương.

     1. Vì sao Nhà trường phải rà soát, xây dựng lại chương trình đào tạo?

Thông tư số 54/2026/TT-BGDĐT (sau đây gọi là Thông tư 54/2026) chính thức có hiệu lực từ ngày 30/6/2026, thay thế Thông tư số 17/2021/TT-BGDĐT. Đây là văn bản quy định khung chuẩn cho toàn bộ chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ, với nhiều điểm mới mang tính bước ngoặt: chuẩn đầu ra bắt buộc phải có yêu cầu về năng lực số, trí tuệ nhân tạo, ngoại ngữ; cấu trúc chương trình được mở rộng theo hướng liên ngành, song ngành, tích hợp; đội ngũ giảng viên và cơ sở vật chất phải đáp ứng những ngưỡng quy định chặt chẽ hơn.

Theo quy định chuyển tiếp tại Thông tư 54/2026, toàn bộ chương trình đào tạo đang triển khai của các cơ sở giáo dục đại học phải được rà soát, hoàn thiện trong thời hạn không quá 36 tháng kể từ ngày Thông tư có hiệu lực, tức chậm nhất là ngày 30/6/2029. Riêng đối với các chương trình đào tạo được xây dựng, ban hành sau ngày Thông tư có hiệu lực – trong đó có nhiều ngành đào tạo giáo viên nghệ thuật của Trường – phải áp dụng ngay các quy định mới khi trình phê duyệt triển khai.

     2. Những điểm mới của Thông tư 54/2026/TT-BGDĐT cán bộ, giảng viên cần nắm rõ

Về chuẩn đầu ra: chuẩn đầu ra trình độ đại học bắt buộc phải thể hiện năng lực số, nội dung liên quan trí tuệ nhân tạo, năng lực ngoại ngữ và khả năng thích ứng, học tập suốt đời, đồng thời phải được cụ thể hoá thành yêu cầu quan sát được, đánh giá được, đo lường được. Đối với các học phần thực hành nghệ thuật (biểu diễn, sáng tác, thiết kế), đây là yêu cầu cần được các khoa chuyên môn đặc biệt lưu tâm, bởi đánh giá nghệ thuật vốn mang tính cảm thụ, cần được cụ thể hoá bằng rubric, tiêu chí định lượng để đáp ứng yêu cầu “đo lường được”.

Về cấu trúc chương trình: Thông tư 54/2026 quy định chi tiết các mô hình liên ngành, song ngành, ngành chính – ngành phụ, chương trình tích hợp hai trình độ liền kề, mở ra dư địa để các đơn vị chủ động thiết kế chương trình linh hoạt, gắn với nhu cầu việc làm đa dạng của người học sau tốt nghiệp.

Về đội ngũ giảng viên: đối với lĩnh vực nghệ thuật, chuẩn CTĐT theo ngành được phép quy định tỷ lệ giảng viên cơ hữu trình độ tiến sĩ thấp hơn mức chung, nhưng không thấp hơn 25% mức sàn quy định; đồng thời giảng viên được phong tặng danh hiệu Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ nhân nhân dân có trình độ thạc sĩ được phép giảng dạy cả bậc đại học và thạc sĩ (không vượt quá 50% tổng số giảng viên tham gia giảng dạy chương trình). Đây là hành lang pháp lý quan trọng để Trường chính thức hoá việc mời, hợp đồng giảng dạy chính khóa với đội ngũ nghệ sĩ, nghệ nhân giàu kinh nghiệm thực hành.

Về cơ chế quản lý: Thông tư 54/2026 nhấn mạnh nguyên tắc hậu kiểm gắn với trách nhiệm giải trình – cơ sở đào tạo phải duy trì điều kiện bảo đảm chất lượng trong suốt quá trình vận hành chương trình, cập nhật đầy đủ dữ liệu lên Hệ thống cơ sở dữ liệu giáo dục đại học (HEMIS) và công khai thông tin trên cổng thông tin điện tử, thay vì chỉ hoàn thiện hồ sơ tại thời điểm mở ngành như trước đây.

     3. Thông tư 62/2026/TT-BGDĐT: Yêu cầu mới khi biên soạn chương trình, giáo trình các học phần bắt buộc dùng chung

Bên cạnh Thông tư 54/2026, ngày 28/7/2026 Bộ Giáo dục và Đào tạo tiếp tục ban hành Thông tư số 62/2026/TT-BGDĐT quy định quy trình biên soạn, ban hành chương trình, giáo trình dạy và học các môn học, học phần bắt buộc sử dụng chung trong chương trình đào tạo các trình độ của giáo dục đại học (có hiệu lực từ ngày 12/9/2026). Văn bản này áp dụng trực tiếp đối với việc biên soạn, cập nhật giáo trình các học phần dùng chung của trường như Lý luận chính trị, Pháp luật đại cương, Giáo dục thể chất, Giáo dục quốc phòng – an ninh, đồng thời có thể là căn cứ tham chiếu khi biên soạn giáo trình các học phần chuyên ngành nghệ thuật. Một số nội dung cán bộ, giảng viên tham gia biên soạn giáo trình cần đặc biệt lưu ý:

Yêu cầu về nội dung giáo trình: theo Điều 5 của Thông tư, giáo trình phải bảo đảm tính khoa học, tính sư phạm, độ chính xác và khả năng cập nhật; tài liệu sử dụng phải có nguồn trích dẫn hợp pháp, bảo đảm liêm chính học thuật và tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ; không được chứa nội dung bị pháp luật cấm trong lĩnh vực xuất bản; đồng thời phải cập nhật chủ trương, chính sách mới của Đảng, Nhà nước cũng như thành tựu khoa học, công nghệ mới.

Trách nhiệm của người biên soạn: theo Điều 7, chủ biên, đồng chủ biên và người biên soạn phải chịu trách nhiệm trước cơ quan tổ chức biên soạn và trước pháp luật về nội dung chuyên môn, tính chính xác và bản quyền sở hữu trí tuệ của giáo trình; phải giải trình bằng văn bản khi có yêu cầu. Đây là điểm mới quan trọng mà giảng viên tham gia biên soạn giáo trình, đặc biệt là giáo trình các học phần lý luận chính trị, pháp luật đại cương, cần lưu ý về trách nhiệm cá nhân của mình.

Thẩm định trước khi ban hành: Đây là điều kiện bắt buộc. Theo Điều 8, chương trình, giáo trình phải được một Hội đồng thẩm định độc lập đánh giá trước khi phê duyệt, với số lượng thành viên là số lẻ, tối thiểu 07 người, gồm Chủ tịch, Phó Chủ tịch (nếu có), Thư ký, ủy viên phản biện và các ủy viên. Người tham gia Hội đồng thẩm định không được đồng thời là thành viên Ban soạn thảo chương trình hoặc người biên soạn giáo trình đang được thẩm định, bảo đảm tính độc lập, khách quan của khâu thẩm định.

Không làm ảnh hưởng đến kết quả học tập đã có của người học: theo Điều 9, khi thay đổi chương trình, giáo trình mới, cơ sở đào tạo phải bảo đảm quyền lợi của người học, tính liên tục của khóa học và không làm vô hiệu kết quả học tập đã được công nhận hợp pháp – đây là nguyên tắc các đơn vị đào tạo cần quán triệt khi xây dựng kế hoạch chuyển đổi chương trình cho các khóa sinh viên đang theo học.

Công khai và lưu trữ hồ sơ điện tử: theo Điều 10, chương trình và giáo trình phải được công khai trên cổng thông tin điện tử của cơ quan ban hành và của trường, nhưng vẫn phải tuân thủ pháp luật về sở hữu trí tuệ và xuất bản khi công khai toàn văn; hồ sơ biên soạn, thẩm định, ban hành có thể được lập và lưu trữ bằng bản điện tử, song phải bảo đảm giá trị pháp lý, tính toàn vẹn, tính xác thực và khả năng truy xuất theo quy định về giao dịch điện tử, an toàn thông tin mạng.

     4. Những vấn đề pháp lý cần lưu ý trong thực tế xây dựng chương trình đào tạo tại Trường

Thứ nhất, phân loại đúng thẩm quyền phê duyệt. Do trường đào tạo nhiều ngành thuộc khối sư phạm (Sư phạm Âm nhạc, Sư phạm Mỹ thuật…), các chương trình đào tạo đại học, thạc sĩ, tiến sĩ thuộc nhóm này bắt buộc phải trình Bộ trưởng Bộ GD&ĐT phê duyệt triển khai, khác với các chương trình không thuộc khối sư phạm (như Thiết kế đồ họa, Quản lý văn hóa nếu không đào tạo giáo viên) có thể do Hiệu trưởng quyết định. Các đơn vị chủ trì xây dựng chương trình cần xác định rõ chương trình của mình thuộc nhóm thẩm quyền nào ngay từ giai đoạn lập đề án, tránh nhầm lẫn về thủ tục, hồ sơ.

Thứ hai, chuẩn bị hồ sơ minh chứng cho đội ngũ giảng viên đặc thù. Để khai thác cơ chế ưu tiên dành cho lĩnh vực nghệ thuật (tỷ lệ giảng viên trình độ tiến sĩ được giảm xuống tối thiểu 25% mức chung; giảng viên là Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ nhân nhân dân trình độ thạc sĩ được giảng dạy cả đại học và thạc sĩ), các khoa chuyên môn cần chủ động rà soát, tập hợp đầy đủ hồ sơ minh chứng (quyết định phong tặng danh hiệu, hợp đồng giảng dạy, hồ sơ khoa học) ngay từ bây giờ để phục vụ công tác xây dựng đề án, thẩm định và kiểm định chất lượng sau này.

Thứ ba, đồng bộ giữa xây dựng chương trình và biên soạn giáo trình. Khi triển khai đồng thời Thông tư 54/2026 (chuẩn chương trình) và Thông tư 62/2026 (quy trình giáo trình dùng chung), các đơn vị cần lưu ý: chương trình mới cần có ngay kế hoạch biên soạn, thẩm định giáo trình các học phần bắt buộc dùng chung theo đúng quy trình – có Hội đồng thẩm định độc lập, có phân định rõ trách nhiệm chủ biên – để tránh tình trạng chương trình đã được phê duyệt nhưng giáo trình chưa đáp ứng yêu cầu pháp lý mới, ảnh hưởng đến tiến độ tổ chức đào tạo.

Thứ tư, bảo đảm quyền lợi người học khi chuyển đổi chương trình, giáo trình. Đối với các khóa sinh viên đang theo học chương trình hiện hành, khi Nhà trường cập nhật chương trình, giáo trình theo quy định mới, các đơn vị đào tạo cần xây dựng phương án chuyển tiếp cụ thể (công nhận tương đương học phần, lộ trình học tập chuyển đổi) để không làm ảnh hưởng đến kết quả học tập đã được công nhận và tiến độ tốt nghiệp của người học.

Thứ năm, tuân thủ nghiêm quy định về sở hữu trí tuệ và liêm chính học thuật. Cả hai Thông tư đều nhấn mạnh yêu cầu về nguồn tài liệu hợp pháp, liêm chính học thuật, trách nhiệm cá nhân của người biên soạn. Đây là nội dung các đơn vị cần phổ biến rộng rãi tới giảng viên tham gia biên soạn chương trình, giáo trình, tránh các rủi ro pháp lý về bản quyền, trích dẫn không đúng quy định.

     5. Một số khuyến nghị đối với các đơn vị trong Trường

Trên cơ sở những yêu cầu mới nêu trên, Phòng Quản lý chất lượng và Pháp chế đề nghị các khoa, đơn vị đào tạo: (1) chủ động rà soát chương trình đào tạo đang triển khai, đối chiếu với các quy định tại Thông tư 54/2026, ưu tiên các chương trình khối sư phạm thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ; (2) rà soát, cập nhật kế hoạch biên soạn giáo trình các học phần dùng chung theo đúng quy trình tại Thông tư 62/2026; (3) rà soát danh sách giảng viên cơ hữu, tập hợp hồ sơ minh chứng đối với giảng viên là nghệ sĩ, nghệ nhân; (4) chủ động phản ánh khó khăn, vướng mắc trong quá trình triển khai về Phòng Quản lý chất lượng và Pháp chế để được hướng dẫn, phối hợp giải quyết kịp thời.

Việc chủ động cập nhật, thích ứng với các quy định pháp lý mới không chỉ là yêu cầu tuân thủ, mà còn là cơ hội để Nhà trường nâng cao chất lượng chương trình đào tạo, tăng cường tính liên thông với công tác kiểm định chất lượng, đồng thời phát huy tối đa lợi thế đặc thù của một cơ sở đào tạo sư phạm nghệ thuật trong giai đoạn phát triển mới.

Phòng Quản lý chất lượng và Pháp chế