VẬN DỤNG NGHỆ THUẬT TẠO HÌNH DOODLE ART VÀO DẠY HỌC MĨ THUẬT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC
Đoàn Thị Hiền
Học viên K15 – Lý luận và PPDH bộ môn Mĩ thuật
1.Đặt vấn đề
Trong bối cảnh đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực của học sinh, môn Mĩ thuật ở tiểu học giữ vai trò quan trọng trong việc nuôi dưỡng cảm xúc thẩm mỹ, khả năng sáng tạo và năng lực biểu đạt cá nhân. Tuy nhiên, thực tiễn dạy học Mĩ thuật hiện nay vẫn còn gặp nhiều hạn chế, đặc biệt là ở phương pháp tổ chức hoạt động sáng tạo chưa thực sự hấp dẫn và chưa khơi gợi được hứng thú học tập ở học sinh. Vì vậy, việc tìm kiếm và vận dụng những hình thức nghệ thuật mới mẻ, gần gũi, dễ tiếp cận đang trở thành yêu cầu thiết yếu. Nghệ thuật Doodle Art, với đặc trưng tự do, ngẫu hứng, giàu tính biểu đạt cá nhân, có tiềm năng lớn để tích hợp vào dạy học Mĩ thuật ở tiểu học. Đây chính là hướng tiếp cận sáng tạo, góp phần làm phong phú phương pháp dạy học, đồng thời nâng cao hiệu quả giáo dục thẩm mỹ cho học sinh. Bài viết này trình bày đặc điểm nghệ thuật Doodle Art và việc vận dụng vào dạy học mĩ thuật cho học sinh Tiểu học
2. Đặc điểm nghệ thuật Doodle Art
Doodle Art – nghệ thuật vẽ nguệch ngoạc, là một hình thức nghệ thuật tự do, không bị ràng buộc bởi các quy tắc chặt chẽ về bố cục, phối cảnh hay kỹ thuật. Đặc điểm nổi bật của Doodle Art là sự “phi quy chuẩn” trong hình thức thể hiện, cho phép người vẽ thoải mái sáng tạo bằng những đường nét ngẫu hứng, không cần chủ đề cụ thể hay tiêu chuẩn thẩm mỹ cố định. Điều quan trọng nhất ở Doodle Art chính là sự tự do tưởng tượng, biểu đạt cảm xúc và cá tính cá nhân. Ngoài vai trò sáng tạo, Doodle Art còn mang tính thư giãn và trị liệu. Chỉ cần giấy trắng và bút, bất kỳ ai cũng có thể vẽ Doodle để giải tỏa áp lực, giảm căng thẳng và rèn luyện khả năng tập trung. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tác dụng tích cực của Doodle Art đối với não bộ và cảm xúc, giúp người thực hành đạt được sự cân bằng tinh thần. Sự đơn giản, ngẫu hứng và tự do đã làm nên bản sắc của Doodle Art, biến nó thành một loại hình nghệ thuật mở, dễ tiếp cận, có giá trị thẩm mỹ, giáo dục và phát triển cá nhân trong xã hội hiện đại.
3. Vận dụng nghệ thuật tạo hình Doodle Art vào dạy học mĩ thuật cho học sinh tiểu học
Vận dụng nghệ thuật Doodle Art để dạy học Mỹ thuật cho học sinh, trước tiên giáo viên cần có sự lựa chọn phương pháp, cách thức vận dụng và quy trình dạy học sao cho phù hợp sau khi đã xác định được nội dung bài dạy.
Ở đây, nội dung bài dạy được xác định là chủ đề Quê hương – đất nước, trong chương trình lớp 4 của bộ sách giáo khoa Chân trời sáng tạo (bản 1). Bài dạy được vận dụng là Bài 1: Tranh vẽ về biển, đảo Việt Nam và Bài 2: Nhân vật với trang phục dân tộc. Hai bài học này được thiết kế theo hướng vận dụng cách vẽ của Doodle Art vào tạo đường nét, bố cục, không gian và màu sắc. Về cách thức vận dụng, với nội dung vận dụng nghệ thuật Doodle Art để hướng dẫn học sinh tạo đường nét, bố cục, không gian và màu sắc cho một bức trang, cần tiến hành các bước: giới thiệu/ hướng dẫn học sinh nhận biết và cảm nhận về đặc điểm của nghệ thuật tạo hình Doodle Art, hướng dẫn học sinh vận dụng vào bài vẽ thông qua các bước kiến tạo kiến thức, luyện tập vận dụng, cuối cùng là phân tích, đánh giá sản phẩm để học sinh sáng tạo được tác phẩm với các nội dung: tạo đường nét, bố cục, không gian và màu sắc.
Vận dụng vào tạo hình đường nét:
Đường nét là ngôn ngữ cơ bản trong nghệ thuật tạo hình, vừa là phương tiện xây dựng hình ảnh vừa là cách thể hiện cảm xúc. Trong Doodle Art, đường nét mang tính ngẫu hứng, lặp lại và đa dạng, vì vậy khi đưa vào giảng dạy, giáo viên có thể giúp học sinh tự do khám phá và phát huy sáng tạo cá nhân. Ở bài “Tranh vẽ về biển đảo Việt Nam” học sinh được hướng dẫn sử dụng các dạng nét cong, nét xoắn, nét gấp khúc để mô tả sóng biển, rạn san hô hay hình dáng tàu chiến. Mỗi em có thể lựa chọn tổ hợp đường nét riêng, từ đó tạo nên bức tranh vừa gần gũi với hiện thực, vừa mang tính biểu tượng nghệ thuật. Cũng với cách tiếp cận này, trong bài “Nhân vật với trang phục dân tộc”, đường nét doodle được học sinh áp dụng để làm phong phú hoa văn thổ cẩm trên váy áo, tạo nhịp điệu trên khăn đội đầu hoặc viền áo bằng những họa tiết lặp. Việc vận dụng đường nét như vậy đã giúp học sinh không chỉ học cách vẽ hình mà còn biết “nói lên cảm xúc” bằng ngôn ngữ thị giác.
Vận dụng vào bố cục tạo hình:
Bố cục giữ vai trò tổ chức tổng thể của tác phẩm, đảm bảo sự hài hòa và nhấn mạnh nội dung trọng tâm. Khi ứng dụng Doodle Art, học sinh được khuyến khích thử nghiệm nhiều dạng bố cục khác nhau thay vì tuân thủ những chuẩn mực cứng nhắc. Ở bài “Tranh vẽ về biển đảo Việt Nam”, có em chọn bố cục trung tâm với hình ảnh cột mốc chủ quyền nổi bật, xung quanh là sóng biển và sinh vật biển được lấp đầy bằng các họa tiết doodle. Một số học sinh khác lại sử dụng bố cục lệch, đặt hình ảnh bộ đội canh gác ở một bên để tạo cảm giác động, trong khi khoảng trống còn lại được phủ kín bởi các họa tiết sóng và san hô. Trong bài “Nhân vật với trang phục dân tộc”, bố cục trở nên phong phú hơn khi các em biết kết hợp hình thức viền khung bằng hoa văn doodle hoặc tổ chức nhiều lớp không gian theo chiều dọc: nền rừng núi, nhân vật trung tâm và bầu trời với các họa tiết đồng tâm. Qua đó, bố cục không còn đơn thuần là sự sắp đặt hình ảnh mà trở thành phương tiện để kể chuyện và thể hiện cá tính nghệ thuật của từng học sinh.
Vận dụng vào tạo hình không gian:
Không gian trong nghệ thuật tạo hình thường gắn với phối cảnh và chiều sâu, song với Doodle Art, yếu tố này được tổ chức linh hoạt hơn, mang tính bao phủ và biểu cảm cao. Ở bài “Tranh vẽ về biển đảo Việt Nam”, học sinh đã được hướng dẫn lấp đầy mặt phẳng giấy bằng hình ảnh và họa tiết: từ nhân vật chính như chú bộ đội hay lá cờ Tổ quốc đến các chi tiết phụ như cá, san hô, sóng biển. Không gian được tổ chức không theo nguyên tắc xa – gần truyền thống, mà dựa trên sự lặp lại, chồng lớp và mật độ nét vẽ, tạo nên một hiệu ứng thị giác dày đặc, sinh động. Trong bài “Nhân vật với trang phục dân tộc”, học sinh đã biết dùng họa tiết doodle để mô tả nền cảnh: ruộng bậc thang, ngôi nhà sàn, tháp Chăm, qua đó làm nổi bật nhân vật trung tâm. Các em cũng biết sử dụng không gian để tạo tương phản, chẳng hạn đặt nhân vật ở giữa và bao quanh bằng họa tiết đại diện cho vùng miền. Nhờ vậy, không gian trong tranh không còn là yếu tố phụ trợ mà trở thành phần cốt lõi giúp hoàn thiện thông điệp nghệ thuật.
Vận dụng vào màu sắc:
Màu sắc là ngôn ngữ mạnh mẽ để truyền đạt cảm xúc và thông điệp. Doodle Art cho phép học sinh tiếp cận màu theo hướng tự do, không bị giới hạn bởi quy tắc phối màu cổ điển. Trong bài “Tranh vẽ về biển đảo Việt Nam”, học sinh đã sử dụng gam nóng như đỏ vàng, cam để tái hiện tinh thần rực rỡ, sôi động của đảo xa, hoặc gam lạnh như xanh dương, tím để gợi sự mênh mông, yên bình của đại dương. Các họa tiết doodle phụ như sóng, cá, cờ Tổ quốc được nhấn bằng màu tương phản, tạo điểm nhấn thị giác. Với bài “Nhân vật với trang phục dân tộc”, màu sắc càng trở nên phong phú khi học sinh chọn gam màu đặc trưng cho từng vùng miền: đỏ – đen cho người Dao, xanh lam – tím cho người Chăm, hay trắng – hồng phấn cho áo dài truyền thống. Mỗi chi tiết trang phục được tô điểm bằng màu sắc doodle như chấm bi, vạch ngang, hoa văn lặp, tạo hiệu ứng vừa sinh động vừa mang đậm dấu ấn văn hóa. Nhờ đó, màu sắc không chỉ làm đẹp tranh mà còn góp phần nuôi dưỡng tình yêu văn hóa dân tộc và ý thức thẩm mỹ.
4. Kết luận
Qua quá trình vận dụng nghệ thuật Doodle Art hai bài học tại Trường Tiểu học Vạn Phúc, Nam Phù, Hà Nội có thể khẳng định rằng việc vận dụng nghệ thuật tạo hình Doodle Art vào dạy học Mĩ thuật mang lại hiệu quả rõ rệt ở nhiều phương diện. Học sinh không chỉ nắm được kỹ năng về đường nét, bố cục, không gian và màu sắc, mà quan trọng hơn, các em còn phát triển được tư duy thẩm mỹ, khả năng sáng tạo cá nhân và tình yêu văn hóa quê hương. Đây chính là minh chứng thuyết phục cho sự cần thiết của việc tích hợp những loại hình nghệ thuật hiện đại, gần gũi vào giảng dạy, góp phần hiện thực hóa mục tiêu phát triển toàn diện trong chương trình giáo dục phổ thông mới.
Hình ảnh minh họa hoạt động học tập và sản phẩm của học sinh
H1. Học sinh lớp 4E, Trường Tiểu học Vạn Phúc, Nam Phù, Hà Nội học bài Biển đảo quê em | H2. Sản phẩm của học sinh Nguyễn Khánh Chi, lớp 4E Trường Tiểu học Vạn Phúc, Nam Phù, Hà Nội
|
H3. Học sinh lớp 4H, Trường Tiểu học Vạn Phúc, Nam Phù, Hà Nội học bài Nhân vật với trang phục dân tộc | H4. Sản phẩm của học sinh Lê Quốc An, lớp 4H Trường Tiểu học Vạn Phúc, Nam Phù,
Hà Nội
|
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Nguyễn Lăng Bình, Phạm Thị Chỉnh (2000), Mĩ thuật và phương pháp dạy – Tập IIITài liệu đào tạo GV, Nxb Giáo dục Hà Nội.
- Nguyễn Lăng Bình (2000), Mĩ thuật và phương pháp dạy học mĩ thuật tiểu học, Tài liệu đào tạo giáo viên, Nxb Giáo dục Hà Nội.
- Nguyễn Hữu Dy (2011), Giáo trình nghệ thuật tạo hình, Trường Đại học Vinh, Nghệ An.
- Nguyễn Thị Nhung (chủ biên), Nguyễn Thị Hậu, Nguyễn Quỳnh Nga…& Lê Thúy Quỳnh (2018), Dạy Mĩ thuật lớp 1, 2, 3, 4, 5 theo định hướng phát triển năng lực (Vận dụng phương pháp mới của Dự án hỗ trợ giáo dục Mĩ thuật Tiểu học do Vương quốc Đan Mạch tài trợ), Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
- Thạch Thị Thanh Quyên (2022), Khai thác, vận dụng nghệ thuật tạo hình trong tranh danh họa Vincent Van Gogh vào dạy học Mĩ thuật tại trường Trung học cơ sở Thanh Xuân, Hà Nội, (Luận văn thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Mĩ thuật, Trường ĐHSP Nghệ thuật Trung ương).
- Lê Hồng Vân (2008), Tạo hình và phương pháp hướng dẫn hoạt động tạo hình cho trẻ em, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
- Sunni Brown (2014), Doodle Revolution (dịch: Cuộc cách mạng vẽ nguệch ngoạc), Nxb Penguin Books.
- Sunni Brown (2016), The joy of doodling (dịch: Niềm vui của việc vẽ nguệch ngoạc), Nxb Hachette Book Group.
- María Jesús Mena (2018), Doodle Art Now (dịch: Nghệ thuật vẽ nguệch ngoạc bây giờ), Nxb Laurence King Publishing.