Ngày 6/11, Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương tổ chức Hội thảo Khoa học quốc tế lần thứ 4 với chủ đề “Hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật Việt Nam trong kỷ nguyên số”.
Phát biểu khai mạc, PGS.TS Đào Đăng Phượng – Hiệu trưởng Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương – cho rằng, yêu cầu đổi mới giáo dục nghệ thuật cần được nhìn trong mối liên hệ với các định hướng lớn về khoa học, công nghệ, giáo dục và văn hóa.
Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo; Nghị quyết số 80-NQ/TW về phát triển văn hóa Việt Nam cùng đặt ra yêu cầu đổi mới đào tạo trên nền tảng khoa học, công nghệ và chuyển đổi số, đồng thời giữ gìn, phát huy hệ giá trị văn hóa và chuẩn mực con người Việt Nam.

Theo PGS.TS Đào Đăng Phượng, với các ngành nghệ thuật, tác động của công nghệ số đang đến rất gần. Các công cụ AI tạo sinh có thể tạo hình ảnh, phối khí, viết lời trong thời gian ngắn. Không ít sinh viên đã sử dụng những công cụ này trong bài tập, đồ án trước khi nhà trường kịp hoàn thiện quy định quản lý.
Trong khi đó, học liệu, bài luyện tập, sản phẩm thực hành và đồ án tốt nghiệp ngày càng được lưu trữ dưới dạng số. Điều này đặt ra những câu hỏi mới về đánh giá năng lực người học, xác định mức độ sáng tạo của cá nhân khi có AI tham gia, cũng như quyền tác giả và sở hữu trí tuệ.
giáo dục nghệ thuật không chỉ cần trang bị cho người học kỹ năng sử dụng công nghệ mà còn phải xác lập những nguyên tắc để công nghệ trở thành công cụ hỗ trợ sáng tạo, không làm lu mờ vai trò của con người.

PGS.TS Bùi Hoài Sơn – Phó Trưởng Ban Tuyên giáo Trung ương – nhấn mạnh, nếu coi giáo dục nghệ thuật là một bộ phận của chiến lược phát triển con người thì cần dành cho lĩnh vực này vị trí phù hợp trong chương trình và nguồn lực đầu tư.
Ông cho rằng, cần xây dựng một hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật thay vì để từng cơ sở giáo dục tự xoay xở. Trong đó, nhà trường cần được kết nối với bảo tàng, nhà hát, không gian sáng tạo, nghệ sĩ, nghệ nhân, doanh nghiệp văn hóa và công nghệ.
Đặc biệt, người thầy cần được đặt ở vị trí trung tâm của đổi mới. Giáo dục nghệ thuật không thể phát triển nếu thiếu đội ngũ giáo viên đủ năng lực, tâm huyết và được tạo điều kiện phát triển nghề nghiệp.

Theo PGS.TS. Bùi Hoài Sơn, hội nhập quốc tế cũng cần được thực hiện trên nền tảng bản sắc. Người học cần tiếp cận mô hình đào tạo tiên tiến, thành tựu công nghệ của thế giới, đồng thời hiểu, yêu và sáng tạo từ di sản văn hóa Việt Nam.
PGS.TS Nguyễn Thu Thủy – Cục trưởng Cục Hợp tác quốc tế (Bộ GD&ĐT) – đánh giá, chủ đề hội thảo gắn trực tiếp với tinh thần các Nghị quyết số 57-NQ/TW, 71-NQ/TW và Nghị quyết 80-NQ/TW.
Các tham luận tập trung vào nhiều vấn đề như ứng dụng công nghệ số, AI trong đào tạo nghệ thuật; đổi mới chương trình, phương pháp giảng dạy; số hóa, bảo tồn và phát huy di sản văn hóa dân tộc. Từ hơn 170 tham luận của các nhà khoa học trong nước và quốc tế, Ban Tổ chức đã lựa chọn 145 bài qua phản biện độc lập để công bố trong Kỷ yếu hội thảo.

Bộ GD&ĐT ghi nhận những bước phát triển trong hợp tác, hội nhập quốc tế của Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương. Năm 2025, Nhà trường thực hiện 22 hoạt động hợp tác quốc tế với đối tác của 10 quốc gia, gấp gần 3 lần năm trước; ký mới 6 văn bản hợp tác. Đến nay, Trường có 16 văn bản hợp tác với đối tác thuộc 10 quốc gia và một tổ chức khu vực.
PGS.TS Nguyễn Thu Thủy đề nghị, Nhà trường tiếp tục xác định hợp tác quốc tế là động lực đổi mới đào tạo và nghiên cứu. Trọng tâm thời gian tới là chuyển các quan hệ đối tác thành sản phẩm khoa học cụ thể như đề tài nghiên cứu chung, công bố quốc tế đồng tác giả, đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, chương trình liên kết đào tạo và trao đổi giảng viên, sinh viên hai chiều.
Nguồn: Xây dựng hệ sinh thái giáo dục nghệ thuật trong kỷ nguyên số
