VẬN DỤNG LINH HOẠT CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC THEO PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TRONG DẠY HỌC THƯỜNG THỨC ÂM NHẠC CHO HỌC SINH LỚP 7 TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ LIÊN NGHĨA, XÃ VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN
Nguyễn Thị Hải Yến
Học viên K17 – Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc
1. Mở đầu
Trong bối cảnh triển khai Chương trình Giáo dục phổ thông 2018, dạy học môn Âm nhạc ở bậc trung học cơ sở (THCS) đang chuyển từ tiếp cận nội dung sang tiếp cận phát triển năng lực người học. Trong đó, mạch nội dung Thường thức âm nhạc giữ vai trò quan trọng trong việc hình thành tri thức nền tảng, phát triển năng lực cảm thụ, tư duy thẩm mỹ và bồi dưỡng tình yêu âm nhạc cho học sinh (HS). Tuy nhiên, do đặc trưng thiên về kiến thức lý thuyết, gắn với yếu tố lịch sử – văn hóa, nội dung này dễ trở nên khô khan nếu giáo viên (GV) chưa vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học phù hợp.
Thực tiễn giảng dạy tại Trường THCS Liên Nghĩa, xã Văn Giang, tỉnh Hưng Yên cho thấy việc đổi mới phương pháp dạy học Thường thức âm nhạc là yêu cầu cấp thiết nhằm nâng cao hứng thú học tập và hiệu quả tiếp nhận tri thức của HS lớp 7. Xuất phát từ yêu cầu đó, bài viết tập trung làm rõ việc vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học theo phát triển năng lực trong dạy học Thường thức âm nhạc cho HS lớp 7 theo bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, góp phần nâng cao chất lượng giáo dục âm nhạc và đáp ứng mục tiêu đổi mới giáo dục hiện nay.
2. Nội dung
2.1. Tập trung vào hợp tác và tương tác
Trong mỗi tiết học, GV cần thiết kế các nhiệm vụ mang tính mở, cho phép HS chủ động khám phá và xây dựng kiến thức thông qua trao đổi và đối thoại. Chẳng hạn, khi học về Trịnh Công Sơn, GV có thể chia lớp thành các nhóm tìm hiểu phong cách sáng tác của ông, từ giai điệu trữ tình đến ca từ giàu triết lý, sau đó trình bày cảm nhận qua hình thức sơ đồ tư duy. Việc phân tích bài Tuổi đời mênh mông theo nhóm giúp HS tự phát hiện nét đẹp của giai điệu nhẹ nhàng và thông điệp về hành trình trưởng thành của tuổi trẻ. Bên cạnh đó, dạy học hợp tác còn phát huy hiệu quả trong các chủ đề tìm hiểu thể loại ca khúc. GV có thể tổ chức hoạt động “Trạm âm nhạc”, trong đó từng nhóm nghe một đoạn ngắn thuộc các thể loại khác nhau: ca khúc trữ tình, hành khúc, dân ca… Sau khi hoàn thành nhiệm vụ, HS luân chuyển giữa các trạm để tiếp tục thảo luận và ghi lại đặc điểm nhận diện của từng thể loại. Cách tổ chức này vừa tạo không khí học tập sôi nổi, vừa khuyến khích HS chia sẻ góc nhìn cá nhân một cách tự tin.
Khả năng hợp tác của HS còn được phát triển mạnh khi GV khuyến khích các nhóm thực hành sáng tạo sản phẩm. Ví dụ, trong bài học về nhạc cụ Tây Nguyên, nhóm HS có thể cùng thiết kế poster giới thiệu cồng chiêng và đàn T’rưng; nhóm khác xây dựng phần thuyết minh về âm sắc, vai trò của nhạc cụ trong đời sống. Sản phẩm của từng nhóm được trình bày trước lớp, tạo nên môi trường đối thoại đa chiều và phát huy rõ năng lực tương tác xã hội.
2.1. Dạy học kết hợp kiến thức và thực tiễn
Khi tổ chức dạy học, GV cần cho HS thấy rõ mối quan hệ giữa kiến thức trong SGK và các hiện tượng âm nhạc xung quanh. Ví dụ, khi học về Hoàng Việt, HS không chỉ tìm hiểu tiểu sử và phong cách sáng tác mà còn nghe lại bài hát Nhạc rừng trong nhiều phiên bản khác nhau, từ biểu diễn thiếu nhi đến hoà tấu nhạc cụ dân tộc. Qua đó, HS hiểu rằng âm nhạc luôn hiện diện trong nhiều không gian văn hoá khác nhau, phản ánh cảm xúc và lịch sử của cộng đồng.
Tương tự, khi học về dân ca vùng miền, GV có thể mời HS chia sẻ trải nghiệm thực tế: đã từng xem quan họ ở đâu, có biết bài dân ca Nam Bộ nào hay không, hoặc đã gặp hình ảnh cồng chiêng trên truyền hình chưa. Sự kết nối này giúp các em nhận ra rằng những bài học như dân ca Bắc Bộ, dân ca Trung Bộ hay âm nhạc Tây Nguyên đều là một phần sống động của đời sống văn hoá Việt Nam, chứ không chỉ tồn tại trên trang giấy.
Ngoài ra, việc kết hợp kiến thức và thực tiễn còn được thể hiện qua các hoạt động trải nghiệm trực tiếp. GV có thể tổ chức cho HS xem video biểu diễn cello hoặc contrabass trong dàn nhạc, sau đó yêu cầu các em mô tả cảm xúc của mình, so sánh vai trò của hai nhạc cụ trong cấu trúc âm thanh. Khi học bài khúc nhạc Chèo thuyền của P.I.Tchaikovsky, HS có thể tưởng tượng cảnh vật qua âm nhạc và vẽ lại hình ảnh gợi ra từ giai điệu.
Quan trọng hơn, dạy học gắn với thực tiễn còn khuyến khích HS ứng dụng kiến thức ngoài lớp học. Các em có thể tự tìm thêm bài hát cùng thể loại, khám phá nhạc sĩ yêu thích hoặc tự quay clip trình bày cảm nhận âm nhạc. Những hoạt động này không chỉ củng cố kiến thức mà còn nuôi dưỡng thói quen thưởng thức nghệ thuật.
1.3. Tổ chức lớp theo nhóm
Trong quá trình dạy học, GV cần tổ chức nhóm theo mục đích từng hoạt động, có thể là nhóm cố định, nhóm linh hoạt hoặc nhóm theo sở thích. Ví dụ, khi tìm hiểu về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, GV có thể chia lớp thành ba nhóm với ba nhiệm vụ khác nhau: nhóm 1 phân tích giai điệu và sắc thái của Tuổi đời mênh mông; nhóm 2 tìm hiểu phong cách sáng tác giàu tính triết lý của ông; nhóm 3 liên hệ cảm xúc cá nhân khi nghe ca khúc. Cách phân công này giúp HS tiếp cận tác phẩm từ nhiều góc độ, qua đó hình thành tri thức đa chiều.
Bên cạnh các nhóm học theo nhiệm vụ, GV có thể triển khai nhóm “thực hành sáng tạo”. Chẳng hạn, khi học về nhạc cụ Tây Nguyên, một nhóm thiết kế poster về cồng chiêng; nhóm khác dựng mô hình đàn T’rưng từ vật liệu tái chế; nhóm còn lại thu thập hình ảnh nghệ nhân biểu diễn. Sản phẩm nhóm giúp HS thể hiện cá tính nghệ thuật, gắn kết kiến thức với thực tiễn văn hoá.
1.4. Hình thành thói quen tự học
Để phát triển thói quen tự học, GV trước hết cần hướng dẫn HS cách tìm kiếm và xử lý thông tin âm nhạc từ nhiều nguồn khác nhau. Khi học về dân ca vùng miền, HS có thể được giao nhiệm vụ tìm một bài dân ca mà các em yêu thích, xem video biểu diễn và ghi lại cảm nhận. Việc tự khám phá các làn điệu như Quan họ Bắc Ninh, Hò Huế hay Lý Nam Bộ giúp các em mở rộng hiểu biết một cách tự nhiên và bền vững.
Trong các bài học về nhạc cụ, GV khuyến khích HS tiếp tục tìm hiểu tại nhà bằng cách xem thêm các video độc tấu cello hoặc contrabass, so sánh âm sắc, tư thế biểu diễn và vai trò của từng nhạc cụ trong dàn nhạc. Nhờ việc chủ động tìm hiểu, HS dễ dàng nhận diện sự khác biệt giữa âm sắc trầm ấm của cello và âm vực trầm sâu của contrabass.
Để duy trì thói quen tự học, GV cần định hướng HS lập “nhật ký âm nhạc” ghi lại những bài hát đã nghe, cảm xúc sau mỗi buổi học và những thông tin mới tìm được. Đây là hình thức phản hồi tự thân, giúp HS nhìn lại quá trình tiến bộ của mình.
2.5. Dạy học kết hợp đánh giá
Trong dạy học Thường thức âm nhạc lớp 7, việc gắn kết đánh giá với từng hoạt động học tập giúp HS hình thành kỹ năng tự quan sát, tự phản hồi và khám phá thế mạnh cá nhân, từ đó phát triển năng lực cảm thụ, phân tích và vận dụng kiến thức âm nhạc vào thực tiễn. Đánh giá cần được thực hiện thường xuyên trong từng bước của quy trình dạy học. Ngay ở hoạt động khởi động, GV có thể sử dụng các câu hỏi gợi mở để đánh giá hiểu biết ban đầu của HS. Ví dụ, khi bắt đầu bài học về nhạc sĩ Trịnh Công Sơn, GV hỏi: “Em đã từng nghe bài hát Tuổi đời mênh mông chưa? Em cảm nhận thế nào về giai điệu của bài hát?”. Những câu trả lời ngắn này giúp GV nắm bắt vốn hiểu biết và cảm xúc ban đầu của HS để làm cơ sở điều chỉnh nội dung và phương pháp chức dạy học phù hợp.
Trong phần khám phá kiến thức, GV kết hợp đánh giá qua quan sát và hoạt động nhóm. Chẳng hạn, ở bài tìm hiểu về nhạc sĩ Hoàng Việt, HS được nghe trích đoạn Nhạc rừng và thảo luận về sự gắn kết giữa âm nhạc và thiên nhiên. GV đánh giá qua mức độ tham gia thảo luận, khả năng diễn đạt cảm xúc và lập luận đơn giản của HS. Đây là hình thức đánh giá năng lực tư duy và phản hồi âm nhạc một cách tự nhiên, không áp lực.
Khi đến hoạt động thực hành, đánh giá được lồng ghép qua sản phẩm học tập. Ví dụ, trong bài học về các thể loại ca khúc, mỗi nhóm chọn một ca khúc thuộc thể loại trữ tình, thiếu nhi hoặc dân gian để trình bày cảm nhận bằng sơ đồ tư duy hoặc đoạn thuyết trình ngắn. GV đánh giá dựa trên tiêu chí rõ ràng như: mức độ hiểu đặc trưng thể loại, khả năng so sánh và sự sáng tạo trong sản phẩm nhóm.
Dạy học kết hợp đánh giá không chỉ tạo môi trường học tập thân thiện mà còn thúc đẩy HS phát triển năng lực tự học, tự đánh giá và hoàn thiện bản thân. Việc lồng ghép đánh giá một cách tinh tế, sáng tạo và nhất quán chính là chìa khóa nâng cao chất lượng dạy học Thường thức âm nhạc trong bối cảnh giáo dục hiện đại, đảm bảo tính khách quan, phát huy động lực học tập, nâng cao hiệu quả cảm thụ, góp phần hình thành nhân cách cho HS theo định hướng phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực âm nhạc.
3. Kết luận
Việc vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực trong dạy học Thường thức âm nhạc cho HS lớp 7 Trường THCS Liên Nghĩa đã cho thấy ý nghĩa thiết thực cả về mặt lý luận và thực tiễn. Khi GV biết tổ chức dạy học theo hướng hợp tác – tương tác, gắn kiến thức với thực tiễn, đa dạng hóa hình thức làm việc nhóm, hình thành thói quen tự học và kết hợp chặt chẽ giữa dạy học với đánh giá, giờ học Thường thức âm nhạc trở nên sinh động, hấp dẫn và phát huy rõ vai trò chủ thể của người học.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Nguyễn Thị Lưu An (2021), Giáo dục thẩm mỹ âm nhạc cho học sinh trung học cơ sở tại tỉnh Bình Dương, Luận án Tiến sĩ Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Tố Mai (2024), Phương pháp dạy học theo phát triển năng lực, Tài liệu nội bộ, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW, Hà Nội.
- Đặng Văn Phúc (2022), Dạy học cảm thụ âm nhạc thông qua phân môn học hát cho học sinh khối lớp 7 tại Trường Trung học cơ sở Vĩnh Hưng, Hoàng Mai, Hà Nội, Luận văn thạc sĩ Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW, Hà Nội.
- Đỗ Hữu Sinh (2018), Dạy học môn Âm nhạc tại trường THCS Trần Bình Trọng, thành phố Thủ Dầu Một, tỉnh Bình Dương, Luận văn thạc sĩ Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW, Hà Nội.
- Đoàn Thanh Vân (2018), Một số giải pháp nâng cao hiệu quả giảng dạy phân môn Âm nhạc thường thức khối Trung học cơ sở tại trường Thực hành Sư phạm – Đại học Hạ Long, Luận văn thạc sĩ Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam, Hà Nội.