ĐẶC ĐIỂM CỦA CA TRÙ
Nguyễn Kim Ngọc
Học viên K21 – Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc
Ca trù là thể loại âm nhạc truyền thống đặc sắc của Việt Nam, xuất hiện từ khoảng thế kỷ XI và phát triển trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Với hệ thống bài bản phong phú, kỹ thuật biểu diễn tinh tế, Ca trù đòi hỏi người học và người nghe cần có sự am hiểu, cảm thụ nghệ thuật sâu sắc. Bên cạnh chức năng giải trí, Ca trù còn mang giá trị xã hội – lịch sử, gắn với đình làng hay không gian sinh hoạt tao nhã của tầng lớp trí thức. Ca trù vừa thể hiện tính khuôn mẫu chặt chẽ trong hình thức và cấu trúc âm nhạc, vừa tạo điều kiện cho sự sáng tạo của nghệ nhân trong quá trình biểu diễn.
1. Đặc điểm âm nhạc
1.1. Hình thức
Mỗi bài Ca trù, thường gắn liền với một thể thơ duy nhất hoặc kết hợp nhiều thể thơ khác nhau. Mỗi khổ thơ trung bình từ 4 đến 8 câu, mỗi câu thơ lại được triển khai thành nhiều tiết nhạc. Một số điệu tiêu biểu có thể kể đến như Gửi thư, Phú Kiều, Tỳ bà hành, Phú Kiều… Bên cạnh đó, cũng có những bài thơ dài không chia thành khổ 4 – 8 câu rõ ràng, mà chỉ được phân đoạn bằng nhịp phách, ví dụ như Cung Bắc, Hát nói. Đặc điểm này tạo nên sự linh hoạt trong quá trình trình diễn, bởi cùng một bài thơ, nhưng khi phổ nhạc lại có thể được xử lý theo những cách thức khác nhau, tùy hát theo điệu, phong cách diễn xướng và ý đồ nghệ thuật của đào nương.
1.2. Cấu trúc
Hệ thống bài bản Ca trù có thể chia thành 2 dạng cấu trúc sau:
Dạng 1: Thể cách được mở đầu bằng khúc giáo đầu hoặc khổ đàn. Ở dạng này cấu trúc của một thể cách Ca trù thường được xây dựng theo 02 kiểu như sau:
Kiểu 1: Khúc giáo đầu (dạo đàn và phách) =>Vào bài (khoan nhặt, chậm rãi) => Dựng/Sòng xếp (nhịp điệu nhanh) => Kết bài (nhịp điệu chậm). Có các bản như: Thét nhạc, Hát nói, Chừ Khi…
Kiểu 2: Khúc giáo đầu (dạo đàn và phách) =>Vào bài (nhịp độ khoan thai, ổn định xuyên suốt thể cách) và => Kết bài (nhịp điệu chậm). Gồm các bài như: Bắc phản, Gửi thư, Hát phú…
Dạng 2: Thể cách được bắt đầu bằng phần ngâm thơ, nhịp tự do. Ở dạng này, cấu trúc nhịp điệu khá tương phản giống như kiểu 1 của dạng 1, chỉ có điều khúc giáo đầu được thay thế bằng phần ngâm thơ với nhịp điệu tự do. Gồm các bản: Cung bắc, Ngâm vọng, Thơ thổng…
Khúc giáo đầu: Đây là đoạn nhạc mở đầu của một bài hát Ca trù, thường được thực hiện bởi nhạc cụ đệm như đàn đáy, phách và trống chầu. Nhạc dạo có thể ngắn hoặc dài tùy thuộc vào yêu cầu của bài hát và phong cách của nghệ nhân.
Ví dụ 1:
Việc nắm vững cấu trúc trong nghệ thuật hát Ca trù có ý nghĩa quan trọng đối với người học, bởi cấu trúc rõ ràng giúp quá trình tiếp thu và rèn luyện trở nên dễ dàng, thuận lợi cho việc ghi nhớ và biểu diễn. Cấu trúc của một bài hát Ca trù không chỉ mang tính khuôn mẫu, mà còn tạo không gian cho nghệ nhân linh hoạt biến tấu, sáng tạo. Nhờ vậy, dù được quy định bởi khuôn phách, nghệ thuật Ca trù vẫn luôn giữ được sự sinh động, mới mẻ và phù hợp với từng hoàn cảnh biểu diễn.
1.3. Thang âm, điệu thức
Trong quá trình hình thành bản sắc của mỗi thể loại âm nhạc, thang âm và điệu thức đóng vai trò đặc biệt quan trọng; Ca trù cũng không phải ngoại lệ. Theo nhà nghiên cứu Bùi Trọng Hiền, 5 cung Nam, Bắc, Huỳnh, Pha, Nao trong Ca trù có thể là tên gọi do giới nhà Nho đặt ra và các bậc thầy lão luyện trong nghề chỉ phổ biến tên gọi: cung Nam và cung Bắc [3]. Tác giả Nguyễn Hiền Đức cho rằng Cung Nam và cung Bắc trong Ca trù có lối tiến hành giai điệu 3 âm. Cung Huỳnh: với lối tiến hành giai điệu 5 âm và thường xuất hiện ở đoạn nhạc có nhịp dồn nhanh. Cung Pha xuất hiện thoáng qua với ý nghĩa pha phách. Cung Nao tác giả cho rằng chỉ thấy ở bài Thét nhạc, nhưng kết luận lại cho rằng: “Thực tế, Cung Nao không tồn tại” [2, tr.80].
Trong Ả đào một khảo cứu về lịch sử và hệ âm luật, tác giả Bùi Trọng Hiền cho rằng, hệ thống cung điệu của Ca trù gồm: hệ 5 cung thiếu, hệ 5 cung và hệ 4 cung. Hệ 5 cung thiếu, giai điệu chủ yếu được xây dựng trên 3 âm: I, III, V (Do – Mib – Sol), 2 âm còn lại chỉ là phụ trợ. Và đặc điểm giai điệu 3 âm chính là lý do tại sao dạng cung điệu này lại được đặt tên là 5 cung thiếu.
Ví dụ 2:
Hệ 5 cung, tác giả cho rằng cả nhạc hát và nhạc đàn đều sử dụng 5 âm thành phần trong tuyến giai điệu vận hành thay vì 3 âm chủ đạo như 5 cung thiếu. Đây là hệ 5 cung đa âm chủ mà Ca trù cũng dùng như một số thể loại âm nhạc truyền thống khác. Số lượng bài bản ở hệ cung này ít hơn hệ 5 cũng thiếu, thường là những bài dễ hát. Nếu như hệ 5 cung thiếu mở đầu bài hát bằng Khúc giáo đầu thì ở hệ 5 cung thường chỉ mở đầu bằng vài tiếng sòng đàn. Có thể kể đến một số bài bản như: Phú, Hát lót, Hãm – dở, Luồn – vói.
Hệ 4 cung, cũng theo tác giả Trọng Hiền ở hệ này chỉ gắn với một thể cách duy nhất là Bình văn.
Từ những dẫn chứng trên đây, có thể thấy đa phần các bài bản của Ca trù mang giai điệu 3 âm. Tác giả Hiền Đức có đề cập tới 5 cung Nam, Bắc, Huỳnh, Pha, Nao nhưng thực tế về cung Huỳnh lại có vẻ ngược lại so với mô tả. Chúng tôi đồng quan điểm với tác giả Trọng Hiền khi cho rằng Ca trù chỉ có hai cung: cung Nam và cung Bắc. Còn thực tế, phần lớn các bài bản Ca trù là 5 cung thiếu và một số bản 5 cung. Việc xác định thang âm và điệu thức giữ vai trò quan trọng trong việc dạy học, nhờ đó mà giáo viên có thể lựa chọn những bài bản phù hợp từ cơ bản đến nâng cao, nhằm nâng cao hiệu quả của quá trình dạy và học.
2. Đặc điểm lời ca
Ca trù sử dụng nhiều thể thơ từ lục bát dân gian cho đến thơ Đường, đặc biệt có sự xuất hiện của Hát nói – một hình thức sáng tạo riêng có. Nhờ đó, Ca trù trở thành thể loại âm nhạc gắn bó chặt chẽ với thơ ca, đồng thời mở ra nhiều khả năng diễn đạt phong phú cho người nghệ nhân.
2.1. Các thể thơ dùng làm lời ca
Thể thơ lục bát: xuất hiện trong nhiều điệu như Bắc phản, Mưỡu, Cung bắc, Chừ khi, Ngâm vọng, Dồn đại thạch, Dựng (trong Dựng – Dở), màn đầu của Bỏ bộ, Non mai – Hồng hạnh. Đây là thể thơ quen thuộc với người Việt.
Thể thơ song thất lục bát: có trong Gửi thư, Tỳ bà hành, Hãm. Với cấu trúc xen kẽ, thể thơ này mang đến sự uyển chuyển, thích hợp để bộc lộ tình cảm sâu lắng.
Thể thơ tự do: thường thấy trong Thét nhạc, Hát giai, Giáo hương, Hát dâng hương, Non mai – Hồng hạnh. Tính chất tự do, giúp nghệ nhân linh hoạt trong diễn xướng, tạo nhiều biến hóa về tiết tấu.
Thể thơ hát nói: là thể thơ đặc biệt, vừa phóng khoáng, vừa có tính quy củ, được coi như sáng tạo riêng của Ca trù. Thơ Hát nói thường có đôi câu chữ Hán sử dụng nhiều điển cố, điển tích; giới văn sĩ thường lấy đó như để phân tài cao thấp.
Thể thơ thất ngôn bát cú: xuất hiện trong tác phẩm như Thiên thai, Thu hứng (Tỳ bà), mang tính chuẩn mực của thơ Đường, thường dùng để ca ngợi cảnh đẹp hay gửi gắm suy tư.
Thể thơ bảy chữ: được sử dụng trong nhiều làn điệu như Giáo nhạc, Luồn vói, Phú (Phú Kiều, Phú tiền Hán), Hát lót (cửa đình), Hát lót – đọc thơ trầm, Dở (trong Dựng – Dở), Màn đầu của Bỏ bộ, giàu tính biểu cảm, có khả năng diễn đạt suy tư và cảm xúc đa dạng.
Lời ca trong Ca trù phần lớn là những bài thơ khuyết danh. Nhiều bài có nguồn gốc dân gian, được lưu truyền qua nhiều đời được các nghệ nhân sáng tạo thêm về giai điệu, nhịp phách, tạo nên giá trị âm nhạc và ngôn từ đặc sắc. Bên cạnh đó, cũng có những bài có tác giả rõ ràng, chủ yếu thuộc thể thơ Hát nói, với các thi nhân tiêu biểu như Nguyễn Công Trứ, Cao Bá Quát, Dương Khuê, Chu Mạnh Trinh…
2.2. Nội dung phản ánh
Lời ca trong Ca trù phản ánh đa dạng các vấn đề tinh thần của con người, từ tình yêu đôi lứa, nỗi niềm thân phận, đến những suy tư trước biến thiên xã hội và thời thế. Đáng chú ý, tình yêu thường được biểu đạt thông qua hệ thống hình tượng ước lệ – tượng trưng. Chẳng hạn, trong bài Gửi thư có câu:
Gửi hồng nhắn cá chớ đơn sai,
Lòng mây nước há như ai chểnh mảng… [6, tr.580]
Thiên nhiên và phong cảnh là không gian quan trọng để nghệ nhân gửi gắm tâm trạng. Hình ảnh trăng, gió, sương hay ngô đồng xuất hiện với tần suất cao trong các bài bản Ca trù. Điều này được thể hiện trong bài Thét nhạc:
Thu, lá thu ngô đồng rụng
Một lá thu báy, hơi sương lọt mày… [1, tr.92]
Ngoài ra, lời ca trong Ca trù thường dùng hình tượng thiên nhiên qua thủ pháp nhân hóa và ước lệ, có thể thấy qua bài Hương Sơn phong cảnh:
Đàn thông phách suối vang lừng,
Cá khe lắng kệ, chim rừng nghe kinh… [7, tr.97].
Nhìn chung, lời ca Ca trù vừa giàu tính trữ tình, vừa mang ý nghĩa triết lý. Hệ thống hình tượng như chim hồng, cá, mây, nước, trăng, ngô đồng, sương, gió, suối, sóng sông… không chỉ đóng vai trò trang trí nghệ thuật mà còn là phương tiện biểu đạt tư tưởng, tình cảm và thế giới quan của người xưa. Nhờ đó, Ca trù vừa phản ánh đời sống thường nhật, vừa chuyển tải những suy ngẫm mang tính phổ quát, góp phần khẳng định giá trị lâu bền của loại hình nghệ thuật này trong đời sống văn hóa Việt Nam.
3. Kết luận
Là một thể dân ca đặc sắc trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, Ca trù trong nó chứa đựng nhiều giá trị văn hóa nghệ thuật. Chính vì vậy, dù trải qua nhiều biến động của lịch sử, xã hội, nhưng các giá trị ấy vẫn được các nghệ nhân cùng những người yêu Ca trù giữ gìn và truyền lại cho đến ngày nay.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Đỗ Bằng Đoàn – Đỗ Trọng Huề (1994), Việt Nam Ca trù biên khảo, Nxb Tp. Hồ Chí Minh.
- Nguyễn Hiền Đức (2019), Âm nhạc Ca trù ở Hà Nội, Luận án Tiến sĩ Âm nhạc học, Học viện Âm nhạc Quốc gia Việt Nam.
- Bùi Trọng Hiền (2024), Ả đào một khảo cứu về lịch sử và hệ âm luật, Nxb Văn học, Hà Nội.
- Phạm Đình Hổ (1989), Vũ trung tùy bút, Nxb Trẻ, hội VHDGVH, Tp Hồ Chí Minh.
- Trần Văn Khê (2004), Du ngoạn trong âm nhạc truyền thống Việt Nam, Nxb Trẻ, Tp Hồ Chí Minh.
- Đặng Hoành Loan, Phạm Minh Hương, Hồ Thị Hồng Dung (2006), Đặc khảo Ca
- Ngô Linh Ngọc – Ngô Văn Phú (1987), Tuyển tập thơ ca trù, Nxb Văn học, Hà Nội.