Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương logo

QUẢN LÝ CÁC HOẠT ĐỘNG VĂN HÓA NGHỆ THUẬT CỦA HỆ THỐNG CÁC TRƯỜNG MARIE CURIE TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HÀ NỘI

                                                                             Lưu Thị Linh

Học viên K19 Quản lý văn hóa

 

1. Mở đầu

Trong tiến trình đổi mới và hội nhập hiện nay, văn hóa được xác định là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu vừa là động lực thúc đẩy sự phát triển bền vững của đất nước. Tinh thần của Đề cương Văn hóa Việt Nam năm 1943 với quan điểm văn hóa soi đường cho quốc dân đi vẫn giữ nguyên giá trị định hướng, đặc biệt trong lĩnh vực giáo dục, nơi trực tiếp hình thành nhân cách và hệ giá trị cho thế hệ trẻ. Các hoạt động văn hóa nghệ thuật trong nhà trường vì thế không chỉ mang ý nghĩa bổ trợ mà còn góp phần quan trọng vào quá trình giáo dục toàn diện, bồi dưỡng thẩm mỹ, nuôi dưỡng tâm hồn và phát triển năng lực sáng tạo của học sinh.

Trong bối cảnh các cơ sở giáo dục ngoài công lập ngày càng phát triển mạnh mẽ tại Thủ đô Hà Nội, yêu cầu đặt ra không chỉ là nâng cao chất lượng dạy học mà còn phải tổ chức hiệu quả các hoạt động văn hóa nghệ thuật phù hợp với đặc thù từng cấp học và môi trường giáo dục. Hệ thống các trường Marie Curie trên địa bàn thành phố Hà Nội với quy mô nhiều cơ sở và cấp học khác nhau đã xây dựng được môi trường giáo dục năng động, chú trọng các hoạt động văn hóa nghệ thuật như một bộ phận cấu thành của chiến lược phát triển nhà trường. Tuy nhiên, sự đa dạng về loại hình, nội dung và phương thức tổ chức cũng đặt ra thách thức không nhỏ đối với công tác quản lý, điều phối và bảo đảm tính đồng bộ giữa các cơ sở.

2. Nội dung

Những ưu điểm và hạn chế trong hoạt động quản lý văn hóa nghệ thuật

Về ưu điểm, công tác quản lý hoạt động văn hóa nghệ thuật tại hệ thống các trường Marie Curie thể hiện rõ tính bài bản, chủ động và có tầm nhìn, trước hết ở khâu lập kế hoạch gắn chặt với kế hoạch năm học, xác định rõ sự kiện trọng điểm, lịch tập luyện, phân công người phụ trách và dự trù nguồn lực theo quy mô học sinh, nhờ đó vừa bảo đảm tính đồng bộ giữa các cơ sở Mỹ Đình, Kiến Hưng, Văn Phú, Việt Hưng vừa phát huy được đặc thù từng cơ sở. Đi cùng với kế hoạch là năng lực tổ chức triển khai tương đối chuyên nghiệp, phân công nhân sự rõ ràng, huy động được giáo viên, học sinh và phụ huynh tham gia, đồng thời linh hoạt thích ứng trước biến động như giai đoạn dịch bệnh bằng việc chuyển đổi hình thức, kết hợp trực tuyến và trực tiếp để duy trì nhịp sinh hoạt nghệ thuật và tăng lan tỏa. Điểm mạnh còn nằm ở chỉ đạo điều hành thống nhất theo định hướng toàn hệ thống, phối hợp đa chiều giữa các bộ phận chuyên môn, giáo viên chủ nhiệm, Đoàn Đội và đối tác bên ngoài, qua đó tạo môi trường nghệ thuật đa dạng, có yếu tố hội nhập như tăng cường tiết mục song ngữ, mở rộng thể loại, khuyến khích học sinh trải nghiệm, hình thành bản sắc văn hóa học đường. Bên cạnh đó, kiểm tra, giám sát và đánh giá được duy trì khá thường xuyên trước, trong và sau hoạt động, giúp kịp thời điều chỉnh tiến độ, bảo đảm an toàn, rút kinh nghiệm, cải tiến kế hoạch cho năm học sau, tạo nền tảng cho tính bền vững và xu hướng nâng cao chất lượng hoạt động theo thời gian.

Về hạn chế, công tác lập kế hoạch tuy nền nếp nhưng ở một số thời điểm vẫn thiên về bao quát và an toàn, chưa thật sự đi sâu cá nhân hóa để phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu riêng, còn thiếu mục tiêu cụ thể gắn với phát triển kỹ năng mềm nên giá trị giáo dục toàn diện chưa được khai thác hết, trong khi năng lực dự báo và cập nhật kế hoạch trước thay đổi đột xuất đôi lúc chưa nhanh, cách truyền thông điều chỉnh chưa kịp thời. Hoạt động tổ chức triển khai cũng chưa đồng đều giữa các cơ sở do chênh lệch về thời gian hình thành, kinh nghiệm, nguồn lực và đội ngũ, khiến cơ sở trung tâm có xu hướng gánh nhiều nhiệm vụ, còn một số cơ sở mới phụ thuộc hỗ trợ, dẫn đến trải nghiệm nghệ thuật của học sinh chưa cân bằng về số lượng lẫn mức độ đa dạng. Mặt khác, cơ chế chỉ đạo điều hành còn phụ thuộc nhiều vào ban giám hiệu, làm giảm phần nào tính chủ động của giáo viên và hạn chế cơ hội để học sinh tham gia ở vai trò tổ chức, từ đó chưa khai thác tốt tiềm năng rèn kỹ năng lãnh đạo, điều phối cho người học, đồng thời phối hợp liên cơ sở đôi khi chưa nhịp nhàng khi triển khai sự kiện chung. Cuối cùng, kiểm tra, giám sát và đánh giá tuy đều đặn nhưng có lúc còn thiên về thủ tục, tập trung vào tiêu chí cơ bản, thiếu phản hồi chuyên môn sâu và thiếu cơ chế khai thác định tính từ phản hồi của học sinh, phụ huynh, trong bối cảnh quy mô hoạt động lớn nhưng nhân sự quản lý giám sát kiêm nhiệm nhiều, khiến việc đo lường và cải tiến chất lượng chưa đạt mức tinh chỉnh như kỳ vọng.

2.2. Đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý văn hóa nghệ thuật trong hệ thống các trường Marie Curie

Giải pháp thứ nhất là chuẩn hóa công tác lập kế hoạch và hệ thống văn bản quản lý theo hướng có khung chung toàn hệ thống nhưng vẫn linh hoạt theo đặc thù từng cơ sở và cấp học. Nhà trường cần xây dựng một bộ khung kế hoạch văn hóa nghệ thuật theo năm học với các mốc cứng, tiêu chuẩn nội dung, yêu cầu an toàn, cơ chế phối hợp và lịch dự phòng để hạn chế tình trạng điều chỉnh gấp, đồng thời bổ sung các phụ lục hướng dẫn theo từng cấp học nhằm bảo đảm tính cá thể hóa phù hợp tâm sinh lý lứa tuổi. Trên cơ sở đó, mỗi cơ sở chủ động thiết kế kế hoạch chi tiết với danh mục hoạt động theo học kỳ, theo tháng, có phân tầng rõ hoạt động đại trà, hoạt động bồi dưỡng năng khiếu và hoạt động trải nghiệm văn hóa, tránh dồn vào một vài cao điểm. Khi kế hoạch được chuẩn hóa theo quy trình chung, việc phân công trách nhiệm cũng trở nên minh bạch hơn, giảm phụ thuộc vào chỉ đạo miệng và hạn chế chồng chéo giữa các tổ chuyên môn. Song song với kế hoạch, cần chuẩn hóa mẫu văn bản sự kiện để thống nhất yêu cầu, tiến độ, tiêu chí đánh giá và kênh truyền thông, qua đó nâng tính chuyên nghiệp và tạo điều kiện cho giáo viên triển khai thuận lợi, nhất quán giữa các lớp.

Giải pháp thứ hai là điều chỉnh cơ chế tổ chức thực hiện theo hướng phân quyền hợp lý, tăng tính tự chủ của cơ sở và phát huy vai trò chủ động của giáo viên, học sinh trong điều hành hoạt động. Ở cấp hệ thống, nên thành lập một tổ điều phối văn hóa nghệ thuật làm đầu mối ban hành khung, hỗ trợ chuyên môn và giám sát chất lượng, còn ở từng cơ sở cần củng cố ban tổ chức thường trực với nhiệm vụ rõ ràng để tránh tình trạng phụ thuộc quá nhiều vào ban giám hiệu ở từng sự kiện. Cùng với đó, nhà trường cần thiết kế mô hình học sinh tham gia tổ chức theo nguyên tắc có hướng dẫn và kiểm soát, chẳng hạn các ban phụ trách truyền thông học sinh, ban hậu cần, ban điều phối câu lạc bộ, nhằm rèn kỹ năng lãnh đạo, quản lý thời gian và làm việc nhóm, đồng thời giảm tải cho giáo viên. Việc phân quyền cần đi kèm cơ chế duyệt hai lớp, nghĩa là giáo viên phụ trách được quyền chủ động triển khai theo kế hoạch, nhưng vẫn có bước duyệt nội dung và chuẩn an toàn từ tổ chuyên môn hoặc ban điều phối, để vừa phát huy sáng tạo vừa bảo đảm định hướng giáo dục. Khi tổ chức thực hiện được thiết kế theo logic phân quyền, phối hợp và kiểm soát rủi ro, hoạt động văn hóa nghệ thuật sẽ vận hành nhịp nhàng hơn, giảm sự phụ thuộc cá nhân và nâng độ bền vững trong toàn hệ thống.

Giải pháp thứ ba là tăng cường nguồn lực và bảo đảm tính đồng đều giữa các cơ sở thông qua cơ chế điều phối nhân sự, ngân sách và hạ tầng theo hướng công bằng cơ hội cho học sinh. Nhà trường cần rà soát chênh lệch về đội ngũ giáo viên nghệ thuật, không gian biểu diễn, phòng chức năng và thiết bị kỹ thuật ở từng cơ sở để có kế hoạch bù đắp theo lộ trình, ưu tiên cơ sở mới hoặc cơ sở có ít hoạt động đa dạng. Có thể áp dụng mô hình “tổ chuyên gia lưu động” gồm giáo viên nòng cốt về âm nhạc, múa, kịch, mỹ thuật, tổ chức luân phiên hỗ trợ chuyên môn, chuyển giao kinh nghiệm và huấn luyện đội ngũ tại cơ sở còn hạn chế, thay vì chỉ hỗ trợ theo sự kiện. Đồng thời, cần phát triển hệ thống câu lạc bộ nghệ thuật theo trục năng khiếu, cho phép học sinh từ các cơ sở tham gia theo cụm hoặc theo hình thức kết hợp trực tuyến và trực tiếp, qua đó mở rộng cơ hội tiếp cận loại hình nghệ thuật mới như nhạc cụ, sân khấu hóa, nhảy hiện đại, nghệ thuật đa phương tiện. Khi nguồn lực được phân bổ hợp lý và được vận hành như một hệ sinh thái chung, chất lượng hoạt động sẽ giảm chênh lệch giữa các cơ sở, đồng thời củng cố thương hiệu giáo dục toàn diện của toàn hệ thống.

Giải pháp thứ tư là đổi mới kiểm tra, giám sát, đánh giá và truyền thông theo hướng dựa trên tiêu chí phân tầng, đo lường được và có phản hồi sâu để cải tiến liên tục. Nhà trường cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá hoạt động văn hóa nghệ thuật theo từng cấp học, trong đó ngoài các tiêu chí nền tảng như phù hợp lứa tuổi, an toàn, kỷ luật, còn có tiêu chí về sáng tạo, kỹ năng mềm, mức độ tham gia, giá trị văn hóa và tác động đến môi trường học đường, từ đó chuyển đánh giá từ hình thức sang chất lượng. Quy trình giám sát cần được thiết kế theo chu kỳ, có theo dõi tiến độ tập luyện, có buổi góp ý chuyên môn cụ thể và có báo cáo rút kinh nghiệm sau sự kiện, đồng thời ứng dụng công cụ số để thu thập phản hồi định lượng và định tính, tránh chỉ dừng ở mức hài lòng chung. Truyền thông cũng cần chuyển từ sự vụ sang chiến lược, nghĩa là không chỉ đăng tải sản phẩm sau sự kiện mà phải truyền thông được mục tiêu giáo dục, câu chuyện phát triển năng lực và giá trị nhân văn của hoạt động, bảo đảm phù hợp tâm lý lứa tuổi và quyền riêng tư của học sinh. Khi kiểm tra, đánh giá và truyền thông được vận hành như công cụ quản lý dựa trên dữ liệu, nhà trường sẽ có căn cứ rõ ràng để điều chỉnh kế hoạch, nâng chất lượng chuyên môn và lan tỏa đúng giá trị của hoạt động văn hóa nghệ thuật trong môi trường giáo dục.

3. Kết luận

Từ những phân tích trên có thể khẳng định rằng công tác quản lý các hoạt động văn hóa nghệ thuật của hệ thống các trường Marie Curie trên địa bàn thành phố Hà Nội đã đạt được nhiều kết quả tích cực, thể hiện ở tính bài bản trong lập kế hoạch, sự chuyên nghiệp và linh hoạt trong tổ chức triển khai, sự chỉ đạo đồng bộ và nền nếp kiểm tra, giám sát tương đối chặt chẽ, qua đó góp phần xây dựng môi trường giáo dục giàu bản sắc và nuôi dưỡng đời sống tinh thần phong phú cho học sinh. Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm nổi bật, vẫn còn tồn tại những hạn chế như tính cá nhân hóa chưa cao, sự thiếu đồng đều giữa các cơ sở, mức độ phân quyền còn hạn chế và công tác đánh giá chưa thật sự đi sâu chất lượng, đòi hỏi phải có những giải pháp đồng bộ, khoa học và phù hợp thực tiễn. Việc tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý theo hướng chuyên nghiệp, linh hoạt, dựa trên dữ liệu và tăng cường sự tham gia của giáo viên, học sinh và phụ huynh sẽ là điều kiện quan trọng để hoạt động văn hóa nghệ thuật không chỉ duy trì ổn định mà còn phát triển bền vững, thực sự trở thành một cấu phần cốt lõi trong giáo dục toàn diện của nhà trường.

 

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Phan Hồng Giang (2011), bài viết Quản lý văn hóa ở một số nước và bài học kinh nghiệm đối với Việt Nam, Tạp chí Cộng sản.
  2. Phan Hồng Giang và Bùi Hoài Sơn (2012), công trình Quản lý văn hóa Việt Nam trong tiến trình đổi mới và hội nhập quốc tế, Nxb Chính trị Quốc gia Sự thật, Hà Nội.
  3. Nguyễn Thị Mỹ Hạnh (2011), Quản lý nhà nước về văn hóa ở thành phố Rạch Giá trong giai đoạn hiện nay, Luận văn thạc sĩ Văn hóa, Trường Đại học Văn hóa Hà Nội, Hà Nội.
  4. Cao Đức Hải và Lê Ngọc Thủy (2010) trong công trình Quản lý dự án văn hóa nghệ thuật, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
  5. Đỗ Đình Hãng (chủ biên) (2008), Tìm hiểu đường lối văn hóa của Đảng Cộng sản Việt Nam,Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
  6. Lê Như Hoa (2000), Quản lý văn hóa đô thị trong điều kiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội
  7. Lê Như Hoa (2006), Quản lý văn hóa nôi công sở, Nxb Lao động, Hà Nội.
  8. Lương Thị Hòa (2022), Quản lý nhà nước đối với biểu diễn nghệ thuật ở Việt Nam hiện nay, Luận án tiến sĩ, Trường Đại học Luật Hà Nội.
  9. Học viện Báo chí và Tuyên truyền, Khoa Văn hóa và Phát triển (2010), Giáo trình cơ sở văn hóa Việt Nam, Hà Nội.
  10. Lê Văn Hồng (2001), Một số vấn đề về quản lý nhà nước đối với hoạt động văn hóa trong tình hình hiện nay (khảo sát trên địa bàn tỉnh Đồng Tháp), Luận văn thạc sĩ Văn hóa, Học viện Chính trị – Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội.