Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương logo

BIỆN PHÁP DẠY HỌC HÁT CA KHÚC VIẾT VỀ TÌNH HỮU NGHỊ LÀO – VIỆT CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG PHONG KHĂM, TỈNH LUÔNG PHA BĂNG

Chanthapanya Nitthaphone

Học viên K19 chuyên ngành LL&PPDH Âm nhạc

Trong chương trình Giáo dục phổ thông hiện nay, việc lựa chọn và giảng dạy các ca khúc mang nội dung lịch sử – chính trị – xã hội có ý nghĩa đặc biệt quan trọng đối với sự hình thành nhân cách và ý thức công dân của học sinh (HS). Ca khúc viết về tình hữu nghị Lào – Việt Nam là một trong những mảng đề tài giàu giá trị tư tưởng và nhân văn, cần được đưa vào dạy học ở lớp 10. Tuy nhiên, để HS hát được những ca khúc này, cần phải có những biện pháp cụ thể trong quá trình dạy học.

1. Rèn luyện tư thế, khẩu hình, hơi thở

Tư thế hát đúng là nền tảng quan trọng giúp người hát phát huy tối đa khả năng kiểm soát hơi thở, tạo âm thanh vang, rõ và giàu sức truyền cảm. Đối với HS lớp 10, việc rèn luyện tư thế cần được thực hiện đều đặn, kết hợp với các bài tập cụ thể để hình thành thói quen tốt khi biểu diễn. Ngồi hát, phải ngay ngắn, lưng thẳng, đầu ngẩng nhẹ, vai thả lỏng, hai tay đặt tự nhiên trên đùi. Đứng hát phải thẳng lưng, trọng tâm cân bằng trên hai chân, đầu ngẩng cao, vai và cánh tay thả lỏng tự nhiên.

Khẩu hình là hình dạng của miệng bao gồm môi, lưỡi, hàm dưới, hàm ếch tạo nên dáng miệng khi phát âm. Việc luyện mở khẩu hình giúp giọng hát tròn vành, rõ chữ. Một khẩu hình đẹp sẽ hỗ trợ âm thanh vừa to, vang, vừa rõ và giàu tính thẩm mỹ. Để đạt được khẩu hình mở khi hát, HS cần mở rộng miệng, phát âm từng chữ rõ ràng nhưng vẫn tạo cảm giác thoải mái và tự nhiên. Lưu ý, không phải mở khẩu hình càng to thì hát càng hay; khẩu hình cần được điều chỉnh tùy theo cao độ, sắc thái và âm điệu của bài hát. Giáo viên (GV) hướng dẫn HS luyện mở khẩu hình bằng cách phát âm các nguyên âm “a”, “i”, “u”, “e”, “o”. GV làm mẫu, sau đó yêu cầu HS hít một hơi thật sâu rồi phát âm theo các mẫu luyện thanh trên.

Hơi thở là yếu tố ảnh hưởng trực tiếp đến độ vang, độ dài câu hát và khả năng biểu đạt cảm xúc. Đối với HS lớp 10, việc rèn luyện kỹ năng lấy hơi, giữ hơi và sử dụng hơi hợp lý là bước không thể thiếu trong quá trình học hát. Một hơi thở đúng kỹ thuật giúp âm thanh tròn đầy, ổn định, hạn chế tình trạng hụt hơi hoặc nén hơi quá mức làm ảnh hưởng đến giọng. GV hướng dẫn HS lấy hơi bằng mũi kết hợp miệng, đảm bảo hơi vào sâu phần bụng thay vì chỉ dừng ở ngực. Khi lấy hơi, cơ hoành hạ xuống, bụng hơi phình ra, vai và ngực giữ ổn định, tránh nâng vai vì sẽ làm hơi thở nông và nhanh mất sức. Để HS cảm nhận rõ, GV có thể yêu cầu đặt một bàn tay lên bụng, bàn tay còn lại lên ngực khi hít vào; nếu bụng phình ra và ngực giữ nguyên, nghĩa là hơi vào đúng vị trí. Giữ hơi là giai đoạn kiểm soát luồng hơi đã lấy vào, giúp âm thanh duy trì ổn định trong cả câu hát. GV cho HS tập giữ hơi bằng cách hít sâu, ngậm miệng, rồi từ từ thở ra qua khe môi nhỏ để tạo tiếng “xì” đều, liên tục. Thời gian duy trì càng lâu chứng tỏ khả năng giữ hơi tốt. Khi hát, HS cần giữ áp lực hơi ổn định, tránh để hơi thoát ra quá nhanh gây hụt cuối câu hoặc quá chậm làm âm thanh yếu. Khi đã nắm được cách lấy và giữ hơi, HS cần luyện cách phân bổ hơi hợp lý cho từng câu hát.

2. Rèn luyện một số kỹ năng hát cho HS

Hát diễn cảm giúp HS không chỉ thể hiện đúng giai điệu, cao độ và trường độ, mà còn truyền tải được cảm xúc, sắc thái và tinh thần của ca khúc đến người nghe. Với HS lớp 10, GV cần giúp HS nắm vững nội dung, ý nghĩa và bối cảnh ra đời của ca khúc. Việc hiểu rõ thông điệp ẩn chứa trong ca từ sẽ là nền tảng để các em thể hiện được cảm xúc một cách tự nhiên và chân thật. Chẳng hạn, khi dạy ca khúc Ấm tình Việt Lào của Văn Hải, GV không chỉ dừng lại ở việc luyện chuẩn cao độ và tiết tấu, mà còn gợi mở cho HS hình dung về tình đoàn kết thủy chung giữa hai dân tộc trong những năm tháng kháng chiến gian khổ. GV có thể kể ngắn gọn về hoàn cảnh lịch sử, phân tích hình ảnh “sát vai kề vai chăn đơn đem đắp chung ngày dài” để HS cảm nhận được khí thế hào hùng nhưng cũng đầy tình người. Từ đó, khi hát những câu như “Càng tô đẹp thêm mối tình thủy chung đoàn kết bền lâu”, HS sẽ biết nhấn mạnh ở từ “thủy chung” và “đoàn kết”, hát với âm lượng mạnh mẽ, vang chắc để thể hiện niềm tin sắt son. Bên cạnh việc phân tích nội dung, GV cần hướng dẫn HS các kỹ thuật xử lý diễn cảm, bao gồm thay đổi cường độ (mạnh – nhẹ), tốc độ (nhanh – 72 chậm), cách nhấn nhá, ngắt câu và ngân giọng phù hợp. Hát diễn cảm không chỉ thể hiện qua giọng hát mà còn thông qua ánh mắt, nụ cười, cử chỉ và tư thế. Khi hát, HS có thể khẽ đưa tay thể hiện sự gắn kết hoặc mỉm cười ở những câu hát về niềm vui chiến thắng. Diễn cảm đòi hỏi sự linh hoạt trong việc sử dụng hơi để phù hợp với từng sắc thái. Ở những đoạn cao trào, HS cần đẩy hơi mạnh để âm thanh vang và đầy năng lượng; ngược lại, ở những đoạn trữ tình, hơi thở nên được giữ nhẹ, tạo cảm giác êm dịu. GV có thể kết hợp các bài tập hơi thở trong quá trình luyện tập diễn cảm để đảm bảo HS vừa duy trì kỹ thuật vừa bộc lộ cảm xúc trọn vẹn. Quá trình dạy hát diễn cảm cũng nên gắn với việc phản hồi và điều chỉnh liên tục. GV có thể ghi âm hoặc quay video phần trình bày của HS, sau đó cho các em nghe và tự đánh giá. Việc này giúp các em nhận ra điểm mạnh, điểm yếu và hiểu rõ hơn về cách mình truyền tải cảm xúc.

Hát rõ lời mang tính quyết định trong quá trình học hát, bởi lời ca chính là phương tiện truyền tải nội dung và thông điệp của tác phẩm đến người nghe. Để làm được điều này, GV khởi động bằng các bài tập luyện khẩu hình, phát âm chuẩn từng nguyên âm và phụ âm. Ví dụ, luyện phát âm các nguyên âm “a – i – u – e – o” với khẩu hình mở vừa đủ, sau đó kết hợp luyện phụ âm đầu và phụ âm cuối để đảm bảo tiếng hát không bị nuốt chữ. GV có thể áp dụng phương pháp “đọc lời ca theo tiết tấu” trước khi hát. Việc này giúp HS làm quen với nhịp điệu và cách đặt chữ trong giai điệu. Chẳng hạn, với ca khúc Ấm tình Việt Lào (Văn Hải), GV yêu cầu HS đọc rõ các từ “bão giông khổ đau”, “sát vai kề vai” với nhấn mạnh âm đầu và giữ tròn âm cuối. Khi ghép vào giai điệu, GV hướng dẫn HS hát ở tốc độ chậm để giữ độ rõ ràng, sau đó mới tăng dần tốc độ nhưng vẫn đảm bảo lời ca không bị mờ. Bên cạnh đó, GV cũng chú ý đến các ca khúc có từ ngữ đặc thù hoặc mang tính địa danh, dân tộc, bởi đây là những điểm dễ khiến HS phát âm sai. Ở bài Tình Việt Lào (Hồ Hữu Thới), các từ “Lào Lùm, Lào Thơng, Lào Sủng” không chỉ cần hát rõ mà còn phải giữ đúng âm sắc đặc trưng. Một số ca khúc đan xen nhiều ngôn ngữ, như Hà Nội – Viêng Chăn (BouuPaSong SaiCekhaMan, lời Việt: Minh Quang), đòi hỏi HS luyện phát âm cả tiếng Việt và tiếng Lào. GV nên chia câu hát thành các đoạn ngắn, luyện từng cụm từ tiếng Lào ở tốc độ chậm, chú ý đến cách đặt lưỡi và khẩu hình để đảm bảo âm thanh gần nhất với chuẩn ngữ âm.

Gõ đệm theo bài hát là một trong những kỹ năng bổ trợ quan trọng trong dạy học hát, giúp HS cảm nhận rõ ràng hơn về nhịp, phách, tiết tấu và cấu trúc âm nhạc. Đối với HS lớp 10, việc rèn kỹ năng này còn giúp các em phát triển khả năng cảm thụ âm nhạc và làm chủ tiết tấu trong các tình huống biểu diễn. GV cần giới thiệu cho HS khái niệm cơ bản về gõ đệm: đây là việc sử dụng nhịp tay, chân hoặc nhạc cụ gõ đơn giản (song loan, thanh phách, trống nhỏ…) để giữ nhịp và nhấn phách theo đúng cấu trúc bài hát. GV giải thích rằng gõ đệm không chỉ dừng ở việc “giữ nhịp” một cách máy móc, mà còn cần phù hợp với sắc thái và cảm xúc của từng ca khúc. Quy trình hướng dẫn bắt đầu từ việc GV cho HS nghe hoặc hát mẫu đoạn nhạc, đồng thời gõ đệm để các em hình dung mối liên hệ giữa giai điệu và tiết tấu. Ví dụ, với ca khúc Ấm tình Việt Lào (Văn Hải), GV có thể hướng dẫn HS gõ đều theo phách mạnh – nhẹ (1 – 2) của nhịp 2/4 để giữ sự chắc chắn cho phần hát. Ở những câu mang tính nhấn mạnh, như “Càng to đệm thêm mối tình thủy chung đoàn kết bền lâu”, GV khuyến khích HS gõ mạnh hơn ở phách đầu để tăng cảm giác kiên định và hào hùng. Tiếp theo, GV hướng dẫn HS thực hành gõ đệm ở mức cơ bản: dùng hai bàn tay vỗ nhẹ vào đùi hoặc vỗ tay theo phách, đảm bảo sự đồng bộ giữa gõ và hát. Sau khi thành thạo, GV nâng dần độ khó bằng cách áp dụng các mô hình tiết tấu khác nhau, chẳng hạn gõ ở phách 1 – 3 hoặc kết hợp gõ xen kẽ mạnh – nhẹ để tạo sự đa dạng. GV lưu ý HS rằng âm lượng khi gõ cần vừa phải để không lấn át giọng hát, đồng thời phải giữ đúng tốc độ và độ ổn định. GV áp dụng phương pháp “nghe – bắt chước – luyện tập”: Nghe mẫu – HS nghe GV hoặc bản thu chuẩn vừa hát vừa gõ đệm. Bắt chước – HS thử gõ theo khi GV hát mẫu, tập trung vào đúng phách và tiết tấu. Luyện tập độc lập – HS tự gõ đệm trong khi hát mà không cần hỗ trợ. Để tạo hứng thú, GV có thể tổ chức luyện tập theo nhóm, mỗi nhóm đảm nhận một hình thức gõ đệm khác nhau rồi cùng phối hợp thành một “ban nhạc nhỏ” trong lớp. Hoạt động này không chỉ rèn kỹ năng mà còn phát triển tinh thần hợp tác và khả năng biểu diễn tập thể. Kỹ năng gõ đệm theo bài hát nếu được luyện tập thường xuyên sẽ giúp HS hát chắc nhịp hơn, cảm nhận tiết tấu tốt hơn và biểu diễn tự tin hơn.

Sửa cách phát âm tiếng Việt, trong quá trình dạy học hát việc sửa cách phát âm tiếng Việt nhằm đảm bảo các em vừa hát đúng giai điệu, vừa thể hiện được nội dung, cảm xúc và bản sắc ngôn ngữ của ca khúc. GV không chỉ truyền đạt kỹ thuật thanh nhạc chung, mà còn phải chú trọng đến đặc thù của tiếng Việt với hệ thống phụ âm, nguyên âm, vần và thanh điệu phong phú, nhiều yếu tố khác biệt so với tiếng Lào. GV hướng dẫn HS nắm chắc vị trí cấu âm của các phụ âm đầu tiếng Việt. Nhiều HS Lào thường mắc lỗi thay thế phụ âm đầu do ảnh hưởng tiếng mẹ đẻ, chẳng hạn “s” thành “x” (sát vai → xát vai), “tr” thành “ch” (trọn đời → chọn đời), “l” thành “n” (lòng → nòng), hoặc “r” thành âm “z” hay “g” (rạng ngời → giạng ngời). Khi sửa, GV yêu cầu HS luyện khẩu hình chậm, bật âm nhẹ nhàng và chính xác, tránh lối hát gằn, xiết hoặc bật mạnh gây thô cứng. Tiếng Việt có hệ thống nguyên âm đa dạng, gồm nguyên âm đơn (a, ơ, ư, e, ê, i/y, o, ô, u) và nguyên âm phức (ia, ưa, ua). GV hướng dẫn HS mở khẩu hình phù hợp với từng âm: với nguyên âm hàng giữa như a, cần mở rộng cả chiều cao và ngang, nét mặt tươi; với nguyên âm hàng trước như ê, khẩu hình hẹp hơn và môi hơi bè; với nguyên âm hàng sau như u, môi chúm và đưa ra trước. Trong bài Tình Việt Lào (Hồ Hữu Thới), câu “Quan họ đến với nhau” giúp HS luyện nguyên âm “o” (Quan) tròn môi và “a” (họ) mở rộng. GV thường kết hợp luyện thanh có kèm gương để HS tự quan sát và điều chỉnh khẩu hình. Nhiều HS Lào khó giữ nguyên khẩu hình khi ngân dài, dẫn đến âm sắc tối hoặc sai cao độ. GV nhấn mạnh nguyên tắc giữ nguyên khẩu hình đến hết giá trị trường độ. Với vần đóng, nhất là các phụ âm cuối như m, n, ng, t, c, cần đóng gọn và rõ để tránh mất nghĩa. Với thanh nặng, GV yêu cầu HS nhấn giữ ngắn gọn nhưng rõ, tránh biến thành thanh huyền. GV có thể sử dụng phương pháp sau: nghe – bắt chước – sửa lỗi: GV hát mẫu, HS lặp lại, sau đó chỉ ra lỗi sai và chỉnh khẩu hình, vị trí lưỡi. Luyện theo cụm từ khó: Chẳng hạn trong Tình anh em Việt – Lào – Campuchia (Phạm Tuyên), cụm “giữ hòa bình” dễ sai ở âm “giữ” và “bình” do thanh ngã và âm cuối “nh”. Ghép lời với nhạc chậm rãi: Giúp HS vừa chú ý đến cao độ, vừa giữ đúng thanh điệu và phụ âm. Ngoài ra, GV có thể lồng ghép giới thiệu ý nghĩa của từng ca khúc, giúp HS nhận thức rằng việc phát âm chuẩn không chỉ là yêu cầu kỹ thuật mà còn thể hiện sự tôn trọng văn hóa và ngôn ngữ của Việt Nam.

3. Kết luận

Các biện pháp dạy học như rèn luyện tư thế hát, khẩu hình, hơi thở và các kỹ năng ca hát là những yếu tố có tính tiên quyết để giúp HS có thể hát tốt các ca khúc viết về tình hữu nghị Việt – Lào. Việc dạy học ca khúc về tình hữu nghị Việt – Lào cho HS góp phần bồi dưỡng nhận thức đúng đắn về mối quan hệ đoàn kết đặc biệt giữa hai dân tộc, được gây dựng và vun đắp qua nhiều năm. Thông qua đó, HS không chỉ tiếp cận kiến thức lịch sử một cách nhẹ nhàng, giàu cảm xúc mà còn hình thành tình cảm trân trọng, biết ơn thế hệ cha anh. Đồng thời, còn giáo dục ý thức giữ gìn, phát huy truyền thống hữu nghị, tăng cường tinh thần hợp tác, trách nhiệm và ý thức công dân trong bối cảnh hội nhập hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Nguyễn Trung Kiên (1982), Phương pháp dạy học hát, Nxb Văn hóa, Hà Nội.
  2. Trần Thị Khanh (2019), Dạy học hát cho học sinh lứa tuổi 14-15 tại Trung tâm phát triển Nghệ thuật Ánh Huyền, Quận Hà Đông, Hà Nội, Luận văn thạc sĩ ngành Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc, Trường ĐHSP Nghệ thuật Trung ương, Hà Nội.
  3. Hồ Mộ La (2007), Phương pháp dạy thanh nhạc, Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội.
  4. Trần Ngọc Lan (2011), Phương pháp hát tốt tiếng Việt, Nxb giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
  5. Lê Kim Hoài Nhân (2025), Dạy học hát cho học sinh lớp 10 Trường Trung học phổ thông Lê Hồng Phong, huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên, Luận văn thạc sĩ ngành Lý luận và phương pháp dạy học âm nhạc, Trường ĐHSP Nghệ thuật TW, Hà Nội.

.