Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương logo

HÌNH TƯỢNG CON NGƯỜI TRONG TRANH DÂN GIAN ĐÔNG HỒ VỚI DẠY HỌC MĨ THUẬT CHO HỌC SINH TIỂU HỌC

Nguyễn Kim Phượng
K15 chuyên ngành Lý luận và PPDH bộ môn Mĩ thuật

Tranh Đông Hồ không chỉ là tác phẩm nghệ thuật in khắc gỗ mà còn là bản sắc văn hóa sống động, phương tiện giáo dục nhân văn và di sản quốc gia góp phần định hình tinh thần lạc quan, sáng tạo, yêu quê hương của người Việt qua các thế hệ. Trong đó, hình tượng con người trong tranh dân gian Đông Hồ không chỉ là yếu tố tạo hình mà còn mang giá trị nghệ thuật sâu sắc, thể hiện bản sắc văn hóa, tư duy thẩm mĩ và tinh thần lạc quan của người Việt. Được cách điệu qua đường nét, màu sắc, bố cục và cách biểu đạt, hình tượng con người truyền tải các giá trị văn hóa, đạo đức, tín ngưỡng và châm biếm xã hội, đồng thời đóng vai trò quan trọng trong giáo dục đạo lý.

  1. Đặt vấn đề

Hình tượng con người trong tranh Đông Hồ mang giá trị nghệ thuật sâu sắc, thể hiện qua tính biểu tượng, đường nét, hòa sắc, bố cục, tính châm biếm và gắn kết với văn hóa, tín ngưỡng. Các yếu tố này không chỉ phản ánh đời sống, tư duy thẩm mĩ và khát vọng của người Việt mà còn là nguồn tài liệu trực quan, phù hợp để giáo dục mĩ thuật. Trong bối cảnh đổi mới giáo dục theo chương trình phổ thông 2018, việc đưa các yếu tố truyền thống vào dạy học mĩ thuật cho học sinh tiểu học góp phần rất lớn trong phát triển toàn diện đức trí thể mĩ, giúp HS phát triển năng lực thẩm mĩ, tư duy sáng tạo và ý thức bảo tồn di sản văn hóa. Vì vậy, ở bài báo này tác giả tập trung đề cập đến những hình thức biểu hiện của hình tượng con người trong tranh dân gian Đông Hồ, từ đó khẳng định sự phù hợp và định hướng vận dụng vào dạy học mĩ thuật cho học sinh tiểu học.

  1. Hình thức thể hiện hình tượng con người trong tranh dân gian Đông Hồ

Kiểu hình tượng con người ở dạng thần linh

Trong tranh dân gian Đông Hồ, hình tượng con người ở dạng thần linh thường được thể hiện qua bốn hình thức tạo hình chính: thứ nhất là con người dưới dạng thần thánh hóa như các tranh “Táo Quân”, “Tiền Lộc – Tiền Tài”, “Ông Phúc – Ông Thọ”, trong trường hợp này thì có thể được xem là thần linh mang “dạng hình nhân”;  trong đó bức tranh “Ông Tơ – Bà Nguyệt” không hẳn là thần linh mà mang tính “nửa thực nửa hư” khi những hiện tượng ông mối, bà mối có thực trong thực tế với một tin ngưỡng rằng “nhân duyên là do Trời xe”, nghĩa là bức trang này “Ông Tơ – Bà Nguyệt” như một hình tượng mang nghĩa bóng hơn là một sự miêu tả.


Ông Tơ – Bà Nguyệt
(Nguồn: [3])

Về hình thức tạo hình ở nhóm đề tài mang tính con người dưới dạng thần thánh hóa, các vị thần dù được khắc họa với những đường nét, hình khối, tỷ lệ khác thường so với con người thực nhằm nhấn đậm đến dáng vẻ uy nghi, khác biệt; cùng với đó bối cảnh được tạo ra cho “Thần” thường được đặt ở vị trí trung tâm của bố cục, ngự trên mây hoặc các linh vật như phượng hoàng, rùa, bệ sen…,  trang phục lộng lẫy, gương mặt nghiêm nghị nhưng hiền từ. Cách thể hiện này nhấn mạnh quyền năng siêu nhiên và vai trò ban phát phúc lành, phù hợp với chức năng thờ cúng và trấn trạch. Bên cạnh đó, thần linh vẫn được nhân tính hóa với vẻ mặt phúc hậu, động tác gần gũi, tỷ lệ cơ thể được cách điệu giản dị, trang phục mang hơi hướng đời thường, tạo cảm giác thân thuộc như những người lớn tuổi trong gia đình. Ngoài ra, nhiều bức tranh còn sử dụng hệ thống biểu tượng và chữ Hán, kết hợp các vật cát tường và màu sắc ngũ hành để truyền tải thông điệp đạo đức và ước vọng tốt đẹp, chẳng hạn như mong cầu hôn nhân viên mãn, tài lộc dồi dào, bình an và trường thọ.

Nhờ sự kết hợp giữa tính linh thiêng và tính gần gũi đời sống, tranh Đông Hồ hình thành ngôn ngữ tạo hình giàu tính biểu tượng nhưng dễ hiểu, dễ tiếp cận, trở thành phương tiện truyền đạt giá trị đạo đức và tín ngưỡng trong đời sống cộng đồng.

Kiểu hình tượng con người được biểu tượng hóa thể hiện các khát vọng trong cuộc sống

Đây là hình thức tạo hình thể hiện hình tượng con người dạng biểu tượng hóa thể hiện các khát vọng trong cuộc sống; thể hiện qua nhiều tác phẩm tiêu biểu như “Tiến tài – Tiến lộc”, “Lễ trí – Nhân nghĩa”, “Phúc Lộc – Song Toàn” và tranh thờ “Ông Phúc – Ông Thọ”. Các hình tượng này mang tính biểu tượng cao, phản ánh khát vọng về Ngũ Phúc (Phúc – Lộc – Thọ – Khang – Ninh) cùng những quan niệm đạo lý chịu ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo trong đời sống người Việt.

Về tạo hình, nhân vật thường được cách điệu tròn trịa, cân đối, không tuân theo giải phẫu thực mà hướng đến cảm giác gần gũi, thân thiện – đặc trưng của nghệ thuật dân gian phục vụ đời sống bình dân. Đường nét mềm mại, uốn cong liên tục tạo nhịp điệu hài hòa giữa con người và thiên nhiên, gợi sự viên mãn, bền vững. Màu sắc sử dụng các gam màu tươi sáng, dạng màu cơ bản như đỏ, vàng, xanh, đen với độ tương phản rõ rệt nhưng cân bằng thị giác, trong đó đỏ tượng trưng cho may mắn, vàng biểu thị phú quý, xanh gợi sự bình an và trường thọ. Bố cục thường theo dạng đối xứng trung tâm, nhân vật chính được đặt ở vị trí nổi bật, xung quanh là các họa tiết trang trí và chữ Hán nhằm tăng ý nghĩa biểu trưng.


Lễ trí – Nhân nghĩa
(Nguồn: PGS.TS. Lê Văn Tạo)

Đặc biệt, trong tranh “Ông Phúc – Ông Thọ”, hình tượng được nhân cách hóa rõ nét với khuôn mặt phúc hậu, nụ cười hiền hòa, tay cầm quạt và gánh các quả biểu tượng cho bình an, trường sinh. Qua đó, hình tượng con người bình dân lý tưởng hóa trong tranh Đông Hồ không chỉ mang giá trị thẩm mĩ mà còn truyền tải khát vọng về cuộc sống hạnh phúc, sung túc và đạo lý sống thiện của người Việt, góp phần khẳng định giá trị nhân văn sâu sắc của dòng tranh dân gian này.

Kiểu hình tượng con người bình dân

Hình tượng con người dạng bình dân được thể hiện với tỷ lệ khá lớn trong dòng tranh dân gian Đông Hồ, cho thấy yếu tố hiện thực cuộc sống được nghệ nhân làng quê Việt hết sức coi trọng. Hình thức tạo hình này  được thể hiện sinh động qua các tác phẩm như “Đánh ghen”, “Hái dừa”, “Rước rồng”, “Múa lân”, “Vinh quy bái tổ”, “Phong tục cải lương – Văn minh tiến bộ”. Những hình ảnh này phản ánh chân thực đời sống sinh hoạt, lao động, phong tục và lễ hội của người dân nông thôn Việt Nam thời phong kiến, đồng thời gửi gắm các thông điệp đạo đức thông qua lối thể hiện hài hước và châm biếm.

Về tạo hình, nhân vật được cách điệu theo phong cách ước lệ, đường nét tạo hình đậm, rõ nét, thân hình tròn trịa, thấp bé, khuôn mặt biểu cảm rõ rệt, lông mày cong, tạo nên tính sinh động và dễ nhận diện. Đường nét thường mạnh mẽ, dứt khoát, nhấn vào động tác và tình huống kịch tính, góp phần tăng tính kể chuyện cho bức tranh. Màu sắc sử dụng các gam nguyên sơ với sự tương phản rõ rệt để làm nổi bật hành động và vai trò nhân vật, đồng thời gợi không khí sinh hoạt, lao động hoặc lễ hội. Bố cục thường mang tính kể chuyện theo nhiều lớp không gian, trong đó nhân vật trung tâm thực hiện hành động chính, xung quanh là các nhân vật phụ tạo nên nhịp điệu sinh hoạt cộng đồng.

Thông qua những hình tượng này, tranh Đông Hồ không chỉ tái hiện đời sống bình dân một cách gần gũi mà còn trở thành phương tiện phản ánh xã hội và giáo dục đạo lý, gửi gắm các bài học về lối sống, lao động và các mối quan hệ cộng đồng, qua đó thể hiện rõ giá trị nhân văn và tính hiện thực trong nghệ thuật dân gian Việt Nam.

Kiểu hình tượng con người được “nhân cách hóa” như một hình thức trào phúng mang tính phản biện xã hội có tính giáo dục mới

Nếu đặt trong bối cảnh ở các thế kỷ XV đến XVIII thì phong cách mĩ thuật “nhân cách hóa” các vấn đề nội dung châm biếm mang tính phản biện và giáo dục xã hội, nhằm phê phán thới hư, tật xấu trong xã hội thông qua ngôn ngữ mĩ thuật mang một tinh thần có tính “cách mạng” trong lịch sử mĩ thuật trung đại Việt Nam. Trong tranh dân gian Đông Hồ, hình tượng con người bình dân thường được thể hiện tiêu biểu qua các bức tranh như “Đám cưới chuột” và “Thầy đồ cóc” được nghệ nhân sử dụng hình ảnh động vật như chuột, cóc, mèo nhưng gán cho chúng hành vi, trang phục và tư thế của con người với những vị thế xã hội khác nhau, mang theo những hành vi của con người vốn đang tồn tại trong xã hội phong kiến đương thời. Những hình ảnh mang tính hài hước, hóm hỉnh, giàu tính tương phản và tính ẩn dụ, vừa mang lại biểu cảm hài hước lại vừa liên tưởng đến những mặt trái của xã hội. Các con vật được nhân cách hóa với những đặc điểm tạo hình ước lệ như đầu to, mắt tròn, động tác cường điệu, tham gia vào các hoạt động quen thuộc của xã hội loài người như rước dâu, dạy học, lễ nghi…, qua đó chúng trở thành nhân vật trên một sân khấu biểu diễn rất sinh động trên mặt tranh do nghệ nhân dân gian Đông Hồ sáng tạo ra.


Đám cưới chuột
(Nguồn: PGS.TS. Lê Văn Tạo)


Thầy Đồ Cóc (Nguồn: PGS.TS. Lê Văn Tạo)

Thông qua hình thức này, tranh Đông Hồ thể hiện tính châm biếm và phê phán xã hội một cách nhẹ nhàng nhưng sâu sắc. Chẳng hạn, trong “Đám cưới chuột”, hình ảnh chuột dâng lễ cho mèo quan hàm ý phê phán nạn tham nhũng, còn “Thầy đồ cóc” châm biếm thói học hình thức và sự giả dối trong giáo dục. Đồng thời, các bức tranh thường kết hợp bố cục kể chuyện, chữ Hán và những biểu tượng quen thuộc để truyền tải bài học đạo đức và thông điệp xã hội. Nhờ vậy, tranh không chỉ mang tính giải trí mà còn trở thành một dạng “ngụ ngôn bằng hình ảnh”, giúp người xem, đặc biệt là trẻ em, dễ dàng nhận thức đúng – sai thông qua những hình tượng hài hước nhưng giàu ý nghĩa giáo dục.

  1. Định hướng vận dụng vào dạy học mĩ thuật cho học sinh tiểu học

Việc vận dụng hình tượng con người trong tranh dân gian Đông Hồ vào dạy học mĩ thuật tại trường tiểu học nhằm khai thác giá trị tạo hình và ý nghĩa văn hóa của dòng tranh dân gian trong giáo dục thẩm mĩ cho học sinh. Thông qua các hình tượng con người được cách điệu với đường nét rõ ràng, màu sắc tươi sáng và nội dung gần gũi đời sống, HS có cơ hội tiếp cận với một nguồn tư liệu trực quan giàu bản sắc dân tộc, từ đó phát triển năng lực cảm thụ thẩm mĩ, khả năng sáng tạo và ý thức trân trọng di sản văn hóa truyền thống. Việc đưa các yếu tố tạo hình của tranh Đông Hồ vào bài học còn giúp HS hiểu sâu hơn về giá trị văn hóa quê hương, góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện của chương trình GDPT 2018 đối với môn mĩ thuật.

Trên cơ sở phân tích đặc điểm tạo hình, giá trị nghệ thuật của hình tượng con người trong tranh dân gian Đông Hồ, chỉ ra sự phù hợp của dòng tranh này trong vận dụng vào dạy học mĩ thuật, trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã tiến hành thực nghiệm vận dụng vào dạy học cho học sinh lớp 4 tại Trường TH Phú Lương I, phường Phú Lương, Hà Nội. Biện pháp 1 tập trung vào vận dụng dạy học với bài học phù điêu đắp đất nặn, biện pháp 2 được thực hiện qua bài học thiết kế trang trí túi xách. Đối với bài học phù điêu đắp đất nặn, GV tổ chức cho HS quan sát tranh gốc, phân tích đặc điểm tạo hình, sau đó hướng dẫn các bước đắp nổi hình tượng con người theo phong cách Đông Hồ, kết hợp tô màu biểu tượng. Với bài bài học thiết kế trang trí túi xách, GV hướng dẫn HS phác thảo, cách điệu và sắp xếp hình tượng con người lên túi xách, sử dụng màu sắc đặc trưng của tranh Đông Hồ để tạo sản phẩm ứng dụng.

Hai bài giảng được triển khai trong chủ đề “Quê hương – Đất nước” của sách Mĩ thuật 4 (bộ Chân trời sáng tạo, bản 1), trong học kỳ II năm học 2024 – 2025, tại lớp thực nghiệm 4A1 và lớp đối chứng 4A5 của Trường Tiểu học Phú Lương I. Kết quả thực nghiệm HV thu được đã cho thấy HS lớp thực nghiệm tham gia tích cực, biết vận dụng đường nét cong tròn, màu sắc nguyên sơ và bố cục ước lệ của tranh Đông Hồ để sáng tạo sản phẩm, đồng thời thể hiện sự hứng thú và khả năng liên hệ với giá trị văn hóa dân tộc.

Thông qua các sản phẩm phù điêu và túi xách trang trí do HS thực hiện đã cho thấy kết quả khả thi. HS đã bước đầu cách điệu hình tượng con người một cách sáng tạo, hài hòa về màu sắc và bố cục. Điều này khẳng định rằng việc tích hợp hình tượng con người trong tranh dân gian Đông Hồ vào dạy học mĩ thuật là hoàn toàn phù hợp và còn mang lại những hiệu quả dạy học thiết thực, góp phần giáo dục ý thức giữ gìn và phát huy giá trị văn hóa truyền thống dân tộc cho học sinh thông qua môn học mĩ thuật ở trường tiểu học.


Tiết học thực nghiệm của HS khối lớp 4 Trường TH Phú Lương I (Nguồn: Tác giả)


Bộ tranh Tố nữ
(Nguồn: [3])


Sản phẩm phù điêu đất nặn và thiết kế trang trí túi sách của HS vận dụng cách điệu từ “Bộ tranh Tố nữ” (Nguồn: tác giả 2025)


Vinh hoa – Phú quý (Nguồn: PGS.TS. Lê Văn Tạo)


Sản phẩm phù điêu đất nặn của HS vận dụng cách điệu từ “Vinh Hoa – Phú Quý”
(Nguồn: tác giả)


Lễ trí – Nhân nghĩa
(Nguồn: PGS.TS. Lê Văn Tạo)


Sản phẩm thiết kế trang trí túi sách của HS vận dụng cách điệu từ
“Lễ trí – Nhân nghĩa” (Nguồn: tác giả)

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Trần Lâm Biền (1993), Hình tượng con người trong nghệ thuật tạo hình truyền thống Việt, Nxb Mĩ thuật.
  2. Nguyễn Văn Cường (chủ biên), Dương Thị Thu Hà & Quách Thị Ngọc An (2024), Giáo dục thẩm mĩ cho học sinh trung học cơ sở qua tải nghiệm mĩ thuật truyền thống, Nxb Văn học.
  3. Nguyễn Thị Thu Hoà (2019), Dòng tranh dân gian Đông Hồ, Nxb Thế giới.