VẬN DỤNG NGHỆ THUẬT BIẾM HỌA CỦA HOẠ SĨ NGUYỄN THÀNH PHONG VÀO DẠY HỌC THIẾT KẾ ẤN PHẨM VĂN HOÁ VÀ XUẤT BẢN PHẨM
Th.S Nguyễn Thị Hải Yến
Khoa Mỹ thuật ứng dụng
Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật TW
Trong bối cảnh giáo dục nghệ thuật đang chuyển mình để thích ứng với yêu cầu của thời đại số, Thiết kế đồ họa cũng cần đổi mới để đào tạo người học biết tư duy bằng hình ảnh, tổ chức thông tin thị giác một cách rõ ràng và có ý thức với các vấn đề xã hội. Ở góc độ này, sáng tác của Nguyễn Thành Phong nổi bật ở khả năng kết hợp giữa tạo hình hiện đại với tinh thần trào phúng gần gũi, dễ tiếp cận, đặc biệt với người trẻ. Nếu được khai thác một cách có định hướng trong học phần Thiết kế ấn phẩm văn hóa và xuất bản phẩm, ngôn ngữ biếm họa không chỉ giúp sinh viên nhìn nhận các vấn đề xã hội từ một góc nhìn trực quan hơn, mà còn tạo điều kiện để các em rèn luyện tư duy phản biện, nâng cao khả năng xử lý hình ảnh và từng bước hình thành phong cách thiết kế cá nhân trong bối cảnh truyền thông số hiện nay.
- Đặc điểm về chủ đề sáng tác
Điểm nổi bật của Nguyễn Thành Phong nằm ở việc tiếp cận truyện tranh như một phương tiện phản ánh đời sống. Những chất liệu quen thuộc, từ ký ức tuổi thơ đến các hiện tượng xã hội hay cuộc sống đô thị, được anh chuyển hóa thành biểu tượng mang tính khái quát, hình thành hệ thống biểu đạt có bản sắc riêng.
Ở giai đoạn đầu, Nguyễn Thành Phong chủ yếu hướng đến lứa tuổi thiếu nhi với những chủ đề đời thường, gần gũi như: Bốn anh tài, Nhi và Tũn, Cậu bé và máy bay giấy; và tác phẩm Orange, với hình ảnh đội bóng rổ học đường được xem như bộ truyện cuối cùng Nguyễn Thành Phong vẽ cho lứa tuổi này trước khi chuyển hướng sáng tác sang những mảng đề tài mang tính thời sự trong sự nghiệp của mình. Sự thay đổi này thể hiện rõ khi anh tham gia vào mảng truyện tranh lịch sử với đỉnh cao là bộ tranh dã sử Long Thần Tướng (năm 2014, hợp tác cùng Khánh Dương) đã đoạt Giải Bạc International MANGA Award lần thứ 9 tại Nhật Bản. Các nhân vật ở Long Thần Tướng đã được nhóm tác giả “nhân khí hóa” thông qua nghiên cứu và chắt lọc tư liệu từ các nguồn sử liệu như Đại Việt sử ký toàn thư hay An Nam chí lược. Nhân vật phản diện Trần Ích Tắc là một ví dụ tiêu biểu, khi được khắc họa với chiều sâu tâm lý gắn liền với hoàn cảnh lịch sử cụ thể.
Ngoài ra, Nguyễn Thành Phong còn mở rộng phạm vi sáng tác sang nhiều lĩnh vực như khoa học viễn tưởng, tâm lý – xã hội và đời sống đương đại. Trong các sáng tác mang tính thời sự, anh lại cho thấy khả năng quan sát đời sống và chuyển hóa thành hình ảnh giàu tính biểu cảm. Bộ truyện Sát thủ đầu mưng mủ (sau này được biên tập, tái bản lại với tên gọi Phê như con tê tê) là một ví dụ điển hình, khi các hiện tượng ngôn ngữ và hành vi của giới trẻ được tái hiện thông qua hình thức biếm họa, tạo nên sự lan tỏa mạnh mẽ trong cộng đồng. Ở đó, yếu tố hài hước không chỉ nhằm mục đích giải trí mà đóng vai trò như một cơ chế phê bình xã hội. Những biểu hiện quen thuộc được cường điệu hoá kích thích người xem nhận diện và suy ngẫm về chính hành vi của mình. Cách tiếp cận này tiếp tục được phát triển trong dự án Không còi. Những hiện tượng quen thuộc trong giao thông đô thị như chen lấn, bấm còi, vượt đèn đỏ… được thể hiện bằng lối cường điệu hóa, tạo cảm giác vừa gần gũi vừa đáng suy nghĩ.
Ngoài yếu tố châm biếm, sáng tác của Nguyễn Thành Phong còn có một sắc thái tự trào khá rõ. Thương nhớ thời bao cấp là một ví dụ, khi những ký ức về một giai đoạn lịch sử được nhìn lại với sự hài hước; những vấn đề như bệnh thành tích hay lối sống hình thức được thể hiện nhẹ nhàng, nhưng vẫn đủ để người xem nhận ra và suy ngẫm. Chính sự kết hợp giữa góc nhìn cá nhân và tinh thần phản biện đã tạo nên giá trị riêng trong sáng tác của Nguyễn Thành Phong, qua đó cũng cho thấy tiềm năng của truyện tranh và biếm họa như một phương tiện biểu đạt có chiều sâu.
- 2. Ngôn ngữ biếm hoạ trong sáng tác của Nguyễn Thành Phong
Đường nét, hình khối và nguyên tắc cường điệu hóa nhân vật:
Đường nét trong minh hoạ của Nguyễn Thành Phong có sự biến thiên linh hoạt. Ví dụ hình tượng Hưng Đạo Vương trong Phong Thần Tướng, nét vẽ gợi nhắc đến thủ pháp thủy mặc với tính chất phóng khoáng nhưng vẫn sắc sảo, qua đó làm nổi bật khí chất nhân vật. Ngược lại, trong các cảnh sinh hoạt đô thị, nét đen bao viền được sử dụng dứt khoát, thậm chí gai góc, nhằm lột tả sự thô ráp của đời sống đương đại, như trong Bé lợn lớn bò.
Cùng với đường nét, hình khối được tổ chức theo nguyên tắc giản lược. Tỷ lệ nhân vật thường bị biến dạng có chủ đích để phản ánh quan hệ xã hội và vị thế quyền lực. Trong Không được thưởng Tết, hình khối vuông vức, lấn át của viên cảnh sát giao thông đối lập rõ rệt với dáng vẻ co ro của hai vợ chồng già. Còn ở Thủ kho to hơn thủ trưởng, sự chênh lệch kích thước giữa hai nhân vật trở thành một phương tiện trực quan để phê phán nghịch lý xã hội.
Tổ chức không gian đồng hiện và nhịp điệu thị giác:
Trong cách tổ chức không gian, Nguyễn Thành Phong không áp dụng quy luật viễn cận tuyến tính quen thuộc, mà anh vận dụng không gian đồng hiện của mỹ thuật phương Đông. Các lớp nhân vật xuất hiện đồng thời trên cùng một bình diện, tạo nên một cấu trúc hình ảnh mang tính dày đặc. Các minh hoạ trong Thương nhớ thời bao cấp như Cửa hàng mậu dịch hay Ai lên vũ trụ thì lên, đám đông không được sắp xếp theo trục trung tâm ổn định mà phân tán thành nhiều cụm hình đan cài, chồng lấn. Khi kết hợp với các điểm nhìn linh hoạt từ trên xuống hoặc hất ngược lên, cấu trúc này phá vỡ cách quan sát tuyến tính, buộc người xem phải liên tục di chuyển thị giác qua các lớp thông tin. Hiệu ứng tạo ra giống như một cuộn tranh đang mở, qua đó tái hiện cảm giác chen lấn, dồn nén của không gian đô thị.
Tính tự sự của không gian tiếp tục được phát huy thông qua việc điều chỉnh cỡ cảnh và góc nhìn, đặc biệt rõ trong Phường Nhai Tuân. Điều này cho thấy cấu trúc không gian trong tranh không mang tính cố định, mà luôn biến đổi theo yêu cầu nội dung: từ không gian phân mảnh mang sắc thái sử thi trong Long Thần Tướng, đến cấu trúc khép kín, xoay vòng gợi cảm giác bế tắc trong Ghế thì ít, đít thì nhiều.
Màu sắc và nhịp điệu thị giác đóng vai trò củng cố cấu trúc này. Tác giả ưu tiên các mảng màu phẳng, tiết chế sắc độ nhưng vẫn đạt hiệu quả thị giác rõ rệt. Các gam màu như vàng đất, xanh rêu thường được sử dụng để gợi không khí hoài niệm, trong khi những tương phản mạnh – như sự đối lập giữa hồng và xanh lam trong Cà phê thuyền tạo ra hiệu ứng thị giác mang tính châm biếm. Sự lặp lại có chủ đích của hình thể và màu sắc góp phần thiết lập một nhịp điệu dồn dập, giữ sự tập trung của người xem vào nội dung chính.
Cấu trúc hình – chữ và khả năng mở rộng biểu đạt:
Một đặc điểm đáng chú ý trong thực hành của Nguyễn Thành Phong là cách xử lý tương quan giữa hình và chữ. Thay vì giữ vai trò chú thích, chữ được đưa vào như một thành tố tạo hình, có khả năng tham gia trực tiếp vào cấu trúc thị giác.
Điều này thể hiện rõ trong các tác phẩm khai thác chủ đề giao thông như Không còi và Ba giây là bấm.
Minh hoạ biếm: Ba giây là bấm _ Nguyễn Thành Phong
Nguồn: https://soha.vn/cu-dan-mang/cu-dan-mang-xon-xao-voi-tranh-biem-hoa-cua-hoa-si-thanh-phong-20130526134246069.htm
Các từ tượng thanh không còn bị giới hạn trong bóng thoại mà toả ra không gian, gắn với các chi tiết vật lý. Chữ được “vật thể hóa” thông qua biến đổi hình dạng và sắc độ: “PIM PIM” với nét nhọn và màu nóng gợi âm thanh chói gắt, trong khi “BẠCH BẠCH…” với sắc độ trầm và nhịp điệu không ổn định lại tái hiện âm thanh nặng và đứt quãng của động cơ. Việc tổ chức các mảng chữ dày đặc trong không gian tạo ra một cơ chế tiếp nhận đặc biệt, nơi người xem không chỉ nhìn mà còn có cảm giác “nghe” được âm thanh. Sự kết hợp này cho thấy mối quan hệ chặt chẽ giữa hình và chữ, trong đó mỗi yếu tố đều góp phần xây dựng ý nghĩa. Mỗi khung tranh có thể được xem như một đơn vị thông tin tương đối hoàn chỉnh: hình ảnh tạo ấn tượng ban đầu, nhân vật xác lập bối cảnh, còn chữ viết bổ sung và khuếch đại nội dung. sự kết hợp này đã giúp biếm họa vượt khỏi chức năng minh họa, trở thành một hình thức biểu đạt thị giác có nhiều tầng nghĩa.
Có thể nói, ngôn ngữ tạo hình trong tranh của Nguyễn Thành Phong được xây dựng trên một hệ thống nhất quán, trong đó các yếu tố như đường nét, hình khối, không gian, màu sắc và chữ viết cùng vận hành để diễn giải nội dung. Bằng các thủ pháp giản lược và cường điệu đặc trưng của biếm hoạ, đời sống xã hội được chuyển hóa thành hình ảnh mang tính khái quát cao, vừa dễ nhận diện, vừa gợi suy nghĩ.
- Ý nghĩa sư phạm của việc vận dụng nghệ thuật biếm hoạ của hoạ sĩ Nguyễn Thành Phong vào dạy học Thiết kế ấn phẩm văn hoá và xuất bản phẩm
Từ những luận điểm đã phân tích, có thể nhận định vận dụng nghệ thuật biếm hoạ của NTP không chỉ mang giá trị nghệ thuật độc lập, mà còn tạo cơ sở khoa học cho việc tổ chức dạy học trong lĩnh vực Thiết kế đồ hoạ nói chung và học phần TKAPVH & XBP nói riêng. Nhận diện biếm hoạ như một ngôn ngữ thị giác có khả năng truyền tải thông điệp mở ra cơ sở để chuyển hóa các nguyên lý sáng tác của Nguyễn Thành Phong thành nội dung và phương pháp giảng dạy.
– Trên phương diện nội dung, các yếu tố tạo hình hay khả năng phản ánh các hiện tượng xã hội đương đại có thể được tích hợp vào quá trình xây dựng đề tài học tập cụ thể. Thay vì giới hạn ở việc rèn luyện kỹ năng trình bày hay minh họa, giảng viên định hướng cho sinh viên khai thác chiều sâu ý nghĩa của hình ảnh, từ đó hình thành tư duy thiết kế gắn với bối cảnh văn hóa – xã hội. Các dạng bài tập có thể được tổ chức theo hướng yêu cầu sinh viên chuyển hóa những chất liệu quen thuộc như ngôn ngữ, hiện tượng ngôn ngữ, vấn đề đời sống thành các sản phẩm thiết kế mang tính khái quát và biểu đạt cao, tương tự cách Nguyễn Thành Phong xử lý chất liệu trong sáng tác của mình.
– Về phương pháp dạy học, việc vận dụng nghệ thuật của Nguyễn Thành Phong cho phép xây dựng một mô hình dạy học mang tính liên ngành, là sự kết nối giữa mỹ thuật – truyền thông – văn hóa. Quá trình học tập không chỉ dừng lại ở thao tác tạo hình, mà được mở rộng thành quá trình phân tích – diễn giải – tái cấu trúc thông tin bằng ngôn ngữ thị giác. Trong đó, người học đóng vai trò chủ thể kiến tạo, chủ động lựa chọn và xử lý hình ảnh nhằm đạt được hiệu quả truyền thông trong các ấn phẩm và xuất bản phẩm.
– Việc tích hợp các yếu tố truyền thống với phương thức biểu đạt hiện đại, có thể được xem như định hướng quan trọng trong dạy học thiết kế ấn phẩm văn hoá. Điều này không chỉ góp phần bảo tồn và tái hiện các giá trị văn hóa dân tộc theo hình thức mới, mà còn giúp người học phát triển khả năng thích ứng với môi trường truyền thông đa nền tảng, nơi ranh giới giữa in ấn truyền thống và xuất bản số ngày càng đòi hỏi sự chủ động và linh hoạt hơn.
Từ những phân tích trên, có thể khẳng định việc vận dụng nghệ thuật của NTP vào giảng dạy không đơn thuần là khai thác một phong cách cá nhân, mà đó là quá trình tiếp cận một hệ tư duy thị giác có khả năng thúc đẩy đổi mới PPDH và nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng mục tiêu phát triển năng lực toàn diện cho người học trong kỷ nguyên số. Thông qua quá trình này, dạy học TKAPVH & XBP được nhìn nhận không chỉ là hoạt động dạy học mang tính kỹ thuật, mà còn là một phương thức biểu đạt văn hóa, góp phần hình thành năng lực thẩm mỹ, tư duy phản biện và ý thức xã hội cho người học trong bối cảnh đương đại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Đỗ Đức (2006), “Biếm hoạ, một chuyên ngành riêng. Tại sao không?”, Tạp chí Mỹ thuật, số 180 (tr), Hà Nội.
- Thành Phong, Hữu Khoa (2023), Thương nhớ thời bao cấp, Nxb Hội nhà văn.
- Nguyễn Ngọc Quang (1990), Lý luận dạy học, Nxb Giáo dục.
- Lê Nghĩa (2024), Họa sĩ Nguyễn Thành Phong: Hiện thực chính là “mỏ” cảm hứng vô tận, Vietcetera. https://vietcetera.com/vn/hoa-si-nguyen-thanh-phong-hien-thuc-chinh-la-mo-cam-hung-vo-tan. Truy cập ngày 12/5/2024.
- Hà Huy Phượng (2019), Sức mạnh của biếm họa, Tạp chí tuyên giáo online. https://tuyengiao.vn/van-hoa-xa-hoi/van-hoa/suc-manh-cua-biem-hoa-124105. Truy cập ngày 11/4/2024.
- Bạch Tiên (2013), “Phê như con tê tê” góp nhặt ngôn ngữ người trẻ, Vietnamnet online. https://vnexpress.net/phe-nhu-con-te-te-gop-nhat-ngon-ngu-nguoi-tre-2539667.html. Truy cập ngày 2/3/2026.