VẺ ĐẸP TẠO HÌNH CỦA HOA VĂN TỨ QUÝ TRONG MỸ THUẬT THỜI NGUYỄN
ThS. Ngô Văn Sơn
Khoa Mỹ thuật Ứng dụng
Tóm tắt: Hoa văn tứ quý (Tùng – Cúc – Trúc – Mai) thời Nguyễn mang đậm tính biểu tượng cung đình, nổi bật với đặc điểm tạo hình tinh xảo, cầu kỳ, mang tính đối xứng cao và phối hợp đa chất liệu. Nghệ nhân thường kết hợp mô típ thực vật với chim thú để tạo sự sinh động, uyển chuyển. Hoa văn trang trí mang yếu tố thể hiện ước vọng trường thọ, khí tiết thanh cao và bốn mùa luân chuyển. Đáng chú ý, hình tượng Hoa mai (tượng trưng cho mùa Xuân) thường được đặc cách xếp đầu tiên, đại diện cho sự khởi đầu tốt lành trong cung đình Nguyễn. Tính biểu tượng của các họa tiết trang trí đó trong mỹ thuật thời Nguyễn là nguồn cảm hứng bất tận cho các thế hệ sinh viên mỹ thuật kế thừa, phát huy và gìn giữu di sản.
Từ khóa: Tứ quý, mô típ, trang trí cơ bản
1. Đặt vấn đề
Đặc điểm đề tài thường gặp trong mỹ thuật thời Nguyễn thường xuất hiện các mô típ trang trí: Kết hợp giữa thực vật và động vật; Cây Tùng thường đi kèm với chim hạc (Tùng hạc diên niên); Hoa Mai đi cùng chim khổng tước hoặc chim chích chòe; Cây Trúc kết hợp với chim công; Hoa Cúc đi cùng chim trĩ hoặc bướm.
Kỹ thuật tạo hình đa dạng: Tứ quý thời Nguyễn không chỉ được vẽ trên tranh mà còn được tạo tác bằng kỹ thuật đỉnh cao trên các công trình kiến trúc như. Khảm sành sứ (pháp lam, khảm mảnh): Kỹ thuật này đạt độ tinh xảo tối đa, tạo nên sự rực rỡ, lộng lẫy và hiệu ứng đa sắc cho các mảng tường hoặc bờ nóc cung điện.
Chạm khắc gỗ, đắp nổi nề vữa: Các đường nét hoa văn mềm mại, điêu luyện, vừa mang tính quy chuẩn của Nho giáo vừa phảng phất nét dân gian.
Sự khác biệt trong phong cách tạo hình tứ quý thời Nguyễn so với các triều đại trước. Về hệ thống mô-típ, hoạ tiết thực vật thời Nguyễn rất phong phú, tiêu biểu là các nhóm hoạ tiết mang tính biểu tượng cao như bộ tứ quý (tùng, cúc, trúc, mai).
2. Nội dung nghiên cứu về đặc điểm tạo hình hoa văn tứ quý trong trang trí mỹ thuật thời Nguyễn
Họa tiết hoa văn tứ quý thời Nguyễn sử dụng hệ thống đường nét phong phú và có quy luật rõ ràng. Đường nét cứng, thẳng được dùng để diễn tả thân trúc, cành mai khẳng khiu, tạo cảm giác vững chắc, kiên định. Đường nét mềm mại, uốn lượn được sử dụng cho cuộn lá, cánh hoa và dây leo, tạo cảm giác uyển chuyển, sinh động. Sự kết hợp hai loại đường nét này trong một họa tiết tạo nên đặc trưng “cương nhu phối hợp”, một nguyên tắc mỹ học quan trọng trong nghệ thuật trang trí phương Đông. Trong thực tiễn giảng dạy, đây là điểm mấu chốt cần giúp sinh viên nhận thức và thực hành thuần thục.
2.1. Đặc điểm hình mảng
Trong bố cục tổng thể, họa tiết tứ quý sử dụng nguyên tắc âm dương đối lập giữa mảng đặc (hình) và mảng rỗng (nền), tạo nên nhịp điệu thị giác. Tỷ lệ giữa hình và nền thường được giữ ở mức cân bằng, trong đó hình chiếm ưu thế nhưng không lấp đầy toàn bộ không gian, một đặc trưng quan trọng phân biệt với mỹ thuật trang trí hoàn toàn theo kiểu horror vacui (sợ khoảng trống) của một số trường phái phương Tây.
Đây là điểm cần nhấn mạnh trong giảng dạy: sinh viên thường có xu hướng lấp đầy toàn bộ mặt giấy, dẫn đến họa tiết trở nên rối mắt và đều dễ dãn đến cảm giác trật trội. Khi nguyên cứu họa tiết hoa văn tứ quý thời Nguyễn và các nguyên tắc sắp xếp hình và nền của hoa văn tứ quý Nguyễn giúp sinh viên hiểu và thực hành nguyên tắc “khoảng trắng” (white space) trong thiết kế hiện đại phù hợp, giàu tố chất thẩm mỹ và sáng tạo hơn.
2.2. Đặc điểm bố cục và nhịp điệu
Các mô típ tứ quý thường được bố cục theo các nguyên tắc: đối xứng gương, đối xứng quay, lặp tịnh tiến và lặp biến điệu. Đó là các nguyên lý hay còn gọi là nguyên tắc tạo hình trong các mô típ trang trí thời Nguyễn mà sinh viên có khả năng học hỏi rất tốt. Trong trang trí đường diềm, mô típ được lặp lại theo một chiều, tạo nhịp điệu liên tục. Trong trang trí mặt phẳng (ô vuông, ô tròn), mô típ được phân bố theo phép đối xứng nhiều trục.
Nhịp điệu trong hoa văn tứ quý thường là nhịp điệu phức hợp: nhịp điệu đều đặn (hoa, lá hoặc lá và hoa xen kẽ các họa tiết cách điệu khác) xen kẽ với nhịp điệu biến điệu (hoa lớn đi kèm hoa nhỏ như nụ hoa hoặc chi tiết nụ). Đây là nền tảng quan trọng cho bài tập trang trí đường diềm trong học phần TTCB2.
2.3. Biểu tượng tứ quý qua chủ đề 4 mùa xuân, hạ, thu, đông
2.3.1. Hoa sen: Hoa sen mang tính biểu tượng cho tinh thần vi diệu của nhà Phật. Hoa sen (liên hoa) ngay từ khi còn là củ, sen là ngó mầm bùn, một mình tự tịnh tiến vươn lên và bừng nở thành hoa có tia sáng mặt trời. Hương sen thơm ngào ngạt từ khi nở đến khi tàn vẫn lưu hương vương vấn. Ở hoa sen hội đủ các phẩm chất: Tính không nhiễm: gần bùn mà chẳng hôi tanh mùi bùn. Tính cảm hoá: sen mọc đến đâu thì nư ớc xung quanh trong đến đó Tính tịnh tiến: nỗ lực vươn lên.
Hoa sen mang tính chất thuần mỹ quyện hoà trong vẻ tao nhã. Vì thế kiến trúc lấy sen làm biểu tượng (chùa Một cột – Diên Hựu tự) trên tinh thần Tịnh độ tông đi sâu vào lý luận Phật giáo: trí tuệ và tình thư ơng bao la độ pháp của Phật đã đi cùng năm tháng. Trải qua biết bao biến cố và thăng trầm của lịch sử dân tộc, sang tới thời Nguyễn vẫn trên cơ sở hình tượng đóa sen nhưng được cách điệu hoá trong kiến trúc. Một nguyên tắc được các nghệ nhân tuân thủ chặt chẽ trong kiến trúc là phong thuỷ, đồ án kiến trúc hài hoà với thực thể địa lý thiên nhiên, biểu tượng bông sen được thiên biến vạn hoá trong mô hình kiến trúc và mang theo giá trị thẩm mỹ cao.
Lá sen khắc tỉa đường gân như hình khắc hà đồ lạc thư trên mai rùa, đầu rùa ngóc lên sinh động, ngộ nghĩnh và hoàn toàn ăn nhập với những đài sen và búp sen được cách điệu mềm mại trong dải trang trí chữ nhật ngang. Sóng nước cũng được cách điệu nhịp nhàng tạo thành một mô típ lá sen biến hình mang theo lời chúc tụng sang quý, vững bền và hương sắc dài lâu. Con Quy (Rùa) chính là biểu trưng cho sự vĩnh cửu và trường tồn, kết hợp hai hình mẫu sen và rùa trong một biểu tượng trang trí phải chăng chính là ý đồ nghệ nhân muốn gửi gắm vào đó ý niệm trường cửu của nhân cách Phật giáo, lá sen hóa quy là lối gắn kết độc đáo trong nghệ thuật mà các thế kỷ trước không đề cập.
Hoa sen thể hiện rõ nét quy luật phổ quát trong thiên nhiên: âm dương, động tĩnh, cánh hoa vừa nhẹ nhàng vừa là sự tích hợp của vũ trụ nhân sinh, từng lớp cánh mỏng manh chứa đựng bên trong là sự đón nhận ánh sáng tự nhiên, những giọt sương long lanh đọng lại nơi từng cánh sen là tinh túy của trời mây đọng lại mỗi sớm và cũng chính là sự tinh diệu của trời đất hợp lại.
Hoa sen, hoa mai… xuất hiện trong nghệ thuật hội họa thời Nguyễn là những điểm tô cho phong cách nghệ thuật thế kỷ 19, ở các thời kỳ trước nhiều nhất trong thể loại tranh tứ bình, những bức tranh thêu, tranh lụa thường mô tả chân dung là chủ yếu, nhưng hiện vật không còn lưu giữ được mà chủ yếu căn cứ trên sử cứ, thi ca và vẽ tranh trên gốm. Đến thời Nguyễn, tranh vẽ đã định hình nội dung đề tài, có thể coi đây là bước đệm cho sáng tạo nghệ thuật hội họa sau này của người Việt.
2.3.2. Tạo hình hoa mai: Hoa mai xuất hiện trong nghệ thuật chạm khắc, trang trí phối hợp đa mẫu, lúc đơn lẻ mang ý nghĩa tượng trưng hoặc kết hợp với các hoa văn hình học, hoa văn chữ Hán, cách điệu để trở thành ý nghĩa biểu trưng cho phẩm chất tạo hình của thẩm mỹ Việt. Chạm khắc hình bông mai có lẽ chỉ thấy ở mỹ thuật thời Nguyễn là có tần suất lớn nhất. Đặc biệt hoa mai đã trở thành một trong các loài hoa chạm khắc trên Cửu Đỉnh – Huế. Nghị đỉnh, chiếc đỉnh thứ năm có hình tượng “mai”, nghĩa là cây hoa mai, loài cây nằm trong bộ Tứ quý “Tùng, Cúc, Trúc, Mai” theo quan niệm truyền thống của người Việt. Trong cả chiều dài lịch sử của mỹ thuật truyền thống Việt Nam, các thế kỷ trước từ thời Lý, Trần, Hậu Lê, Mạc đến thời Lê Trung Hưng, Tây Sơn, người ta vẫn thường quen với hoa sen, hoa cúc trong biểu tượng tín ngưỡng, có thể nhận thấy chưa thời kỳ nào có thể khai thác cái đẹp nhẹ nhàng thanh khiết từ bông mai với tần suất lớn và thành công như mỹ thuật thời Nguyễn. Hoa đào tượng trưng cho mùa xuân xứ Bắc, hoa mai tượng trưng cho mùa xuân phương Nam, loài hoa nhỏ bé đi vào trong nghệ thuật dân gian và trở nên 70 quen thuộc gần gũi. Dưới thời Nguyễn thế kỷ 19, nghệ thuật trang trí chạm khắc kiến trúc cung đình hay thậm chí các mảng chạm trang trí và phù điêu ở tư gia trên các đồ vật dụng người ta vẫn thấy sự xuất hiện của hoa mai với nét đẹp sâu sắc như người phụ nữ phương Đông.
2.3.3. Tạo hình hoa cúc: Cửu đỉnh trước sân chầu thế Miếu của hệ thống cung điện triều Nguyễn ở Huế cũng phần nào nói lên những giá trị thẩm mỹ từ tư duy của các vị Vua đầu triều. Chín đỉnh đồng được đổ khuôn, đúc chạm tinh khéo. Mỗi đỉnh là một bức tranh phong cảnh mang ý nghĩa 61 nội dung và tư t ưởng khác nhau. Khi là con sông Vị Tế, lúc là cảnh Cầu Tràng Tiền, khi bông cúc, cây tùng, cây trúc, cành mai, chim trĩ, chim hạc… tất cả được nghệ nhân tích hợp trên những mảng đúc chạm để nói lên non sông cẩm tú của triều Nguyễn. Trong đó hình t ượng bông hoa cúc được chú ý không phải bởi nét tế vi ở lớp cánh mà được tạo bởi sự nhẹ nhàng thanh khiết từ kỹ thuật đổ khuôn đúc đồng và chạm trên chất liệu đồng. Khi quan sát có thể gợi lên tính cách của chính người sáng tạo, nhẹ nhàng, kỹ lư ỡng, cẩn trọng và cũng rất giản dị, gần gũi. Điểm đặc biệt của hoa cúc chính là ở lối đan xen, với những mảng đầu dư , lườn nóc, tán lá cúc hoá long. Sự nhắc lại vẻ đẹp của mô típ thực vật ở đây cũng đ ược nhắc tới khéo léo, không khiên cưỡng, cứng nhắc, nó mềm mại nhẹ nhàng và trở thành họa tiết sắp xếp trong đồ án trang trí đường diềm có nhịp điệu.
Với bố cục dọc hoặc bố cục ngang, hoa cúc luôn luôn được thể hiện với sự thanh thoát, quyến rũ nhưng cũng rất nhẹ nhàng. Chiêm ngưỡng từng vóc dáng, hoạ tiết, đường nét chạm khắc sông, núi, cây cối, hoa trái, tàu thuyền, súng đạn… trên chín đỉnh, ai cũng có thể nhận ra bàn tay của cha ông mình trong dặm dài “mang gươm đi mở nước”. thủa khai sinh văn minh sông Hồng đã làm nên sự kết tinh nghệ thuật, sự kết tinh tinh túy trên những sản phẩm – tác phẩm Cửu Đỉnh này là cái đẹp đích thực của văn hóa nằm trong quan niệm thẩm mỹ truyền thống. Chiêm ngưỡng từng vóc dáng, hoạ tiết, đường nét chạm khắc sông, núi, cây cối, hoa trái, tàu thuyền, súng đạn… trên chín đỉnh, ai cũng có thể nhận ra bàn tay của cha ông mình trong dặm dài “mang gươm đi mở nước”. thủa khai sinh văn minh sông Hồng đã làm nên sự kết tinh nghệ thuật, sự kết tinh tinh túy trên những sản phẩm – tác phẩm Cửu Đỉnh này là cái đẹp đích thực của văn hóa nằm trong quan niệm thẩm mỹ truyền thống. Chiêm ngưỡng từng vóc dáng, hoạ tiết, đường nét chạm khắc sông, núi, cây cối, hoa trái, tàu thuyền, súng đạn… trên chín đỉnh, ai cũng có thể nhận ra bàn tay của cha ông mình trong dặm dài “mang gươm đi mở nước”. thủa khai sinh văn minh sông Hồng đã làm nên sự kết tinh nghệ thuật, sự kết tinh tinh túy trên những sản phẩm – tác phẩm Cửu Đỉnh này là cái đẹp đích thực của văn hóa nằm trong quan niệm thẩm mỹ truyền thống. Môi côi hoa là hình mẫu hoa mai năm cánh quen thuộc nhưng lá cành cách điệu rất độc đáo, lại thêm thân cây được tách nhánh từ lớp sóng trên dòng kênh Vị tế. Lá cành lướt trên mặt nước nhưng tách theo hai hướng và nối kết hai nhánh mai chính là bọt sóng. Hai chùm mai đăng đối hai bên tạo thế cân bằng trong dáng vẻ phá thế tự nhiên đã làm cho bông mai sinh động hơn trong nghệ thuật chạm khắc cuối thế kỷ. Cũng là mai, như ng cây mai trên Nghị đỉnh (đỉnh đồng thứ năm trong chín đỉnh) lại được biến hình và kiểu thức hoá thành hình con tuần lộc. Từ gốc cây mai chắc chắn to đậm, chắc khoẻ với sự điểm xuyết các bông hoa cánh to, rồi thân mai thu nhỏ dần một chút, lại bỗng chốc vươn lên theo hướng chếch chéo, bất ngờ một nhành mai tách ra ngả ngang bên song song với mặt đất nối dài như sừng hươu với chùm hoa nhỏ và các tua lá non mềm mại. Nghệ nhân đúc đồng đã khéo léo tạo nên tính hiện thực nhưng vi tế đến từng chi tiết tạo hình. Bông mai như được tiếp thêm sinh lực từ ý nghĩa tiếp lộc tài, tượng trưng cho ước muốn đất nước thịnh vượng, dồi dào sinh khí từ thẩm mỹ của vua anh minh. Hoa mai trong chạm khắc, điêu khắc thời Nguyễn đã góp thêm sự cường phú cho nghệ thuật tạo hình thời Nguyễn. Mai còn xuất hiện trong hầu hết các loại hình nghệ thuật; từ các mô thức nhỏ bé đến hình mẫu phức tạp, mai không đơn lẻ mà gắn kết cùng những biểu tượng khác làm tăng thêm tố chất thẩm mỹ cho thảo mộc, cây cỏ và tự nhiên mang theo vượng khí và tinh thần an lạc được gửi gắm nơi tâm hồn sáng tạo của nghệ nhân.
2.3.4. Hoa lan: Không chỉ mô phỏng hoa lá trong tự nhiên, hoa lan còn được biến điệu với thể thức mới dạng thức lá hóa trong nghệ thuật tạo hình thời Nguyễn. Thể thức cách điệu này gợi liên tưởng đến loài vật được cách điệu dạng biểu tượng trên cơ sở sư uốn lượn cấu trúc của lá lan dài, mảnh, nhỏ mềm mại.
Họa tiết Lan hóa rồng (hay lan hóa long) là một biểu tượng độc đáo và tinh tế trong nghệ thuật trang trí cung đình truyền thống Việt Nam, đặc biệt phổ biến trong kiến trúc và điêu khắc tại Cố đô Huế. Họa tiết này xuất phát từ tư duy sáng tạo và trí tưởng tượng phong phú của các nghệ nhân xưa. Họ kết hợp thế giới thực vật với sức mạnh siêu nhiên của tứ linh.
Sự biến hóa: Các nhánh, cành hoặc lá hoa lan được cách điệu mềm mại, uyển chuyển để phần đầu cành hoặc cụm lá biến hóa thành hình tượng đầu rồng hoặc thân rồng đầy uy quyền. Biểu tượng thể hiện sự hòa hợp tuyệt đối giữa thiên nhiên thanh tao (hoa lan) và quyền uy vũ trụ tối cao (rồng). Hoa lan vốn là loài hoa vương giả (“vương giả chi hoa”), biểu tượng cho sự hoàn mỹ, thanh cao. Khi kết hợp với rồng (“hóa rồng”), họa tiết này biểu thị cho sự thăng hoa, phát triển vượt bậc, thịnh vượng và vương quyền. Trong nghệ thuật tạo hình thế kỷ 19, đặc biệt trên các di tích kiến trúc tại Huế, họa tiết này thường đi kèm với các bộ đồ án hoa lá cách điệu rất đặc trưng Trúc/tùng hóa long, Mai/đào hóa phượng, Cúc hóa kỳ lân, Lan hóa rồng… Nghệ thuật trang trí kiến trúc thế kỷ 19 có rất nhiều. hình mẫu, nhất là ở Huế. Nổi bật nhất là các hình mẫu hoa, lá, trái cây, được cách điệu thành những hoa văn.
2.3.5. Họa tiết lá hóa (biến điệu biểu tượng thiên nhiên từ hoa lá): Cành lá hoá long” vốn là hoa văn được xuất hiện và phát triển nhiều trong hội hoạ, điêu khắc, kiến trúc của Cung đình Huế. Họa tiết sen hóa Quy (hay hoa sen hóa rùa, Liên Quy) là một biểu tượng độc đáo trong mỹ thuật triều Nguyễn. Nghệ nhân sử dụng hình ảnh lá sen với mép cong vằn lên tạo thành hình dáng mai rùa, kết hợp với bông sen làm phần đầu hoặc đuôi, thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa thực vật và linh vật. Ý nghĩa biểu tượng
Sự trường thọ và thanh cao: Hoa sen biểu trưng cho sự thanh khiết, giác ngộ trong Phật giáo. Rùa (Quy) là một trong “Tứ linh” đại diện cho sự trường tồn, sức chịu đựng bền bỉ và vĩnh cửu. Nhóm họa tiết này mang ý nghĩa gửi gắm ước vọng: Sự kết hợp này gửi gắm mong cầu về một cuộc sống trường thọ, sức khỏe dồi dào nhưng vẫn giữ được tâm hồn thanh cao, trong sạch. Phối hợp tứ thời (bốn mùa): Sen hóa Quy thường đi chung với chùm họa tiết “hóa” đặc trưng của Huế như: Phật thủ hóa long, Mai hóa lân, Cúc hóa phượng. Vị trí trang trí: Thường được chạm khắc nổi bật trên các cấu kiện kiến trúc gỗ như đầu kèo, xuyên, hoặc các bức hoành phi, bình phong.
Kết luận: Họa tiết tứ quý thường xuất hiện nhiều trong kiến trúc cung đình Huế và các ngôi nhà cổ. Tiêu biểu có thể thấy tại các di tích, cung điện hoặc các công trình nổi tiếng như Nhà trăm cột ở Long An, nơi các nghệ nhân cung đình Huế xưa đã trực tiếp chạm khắc. Sen hóa rùa (Liên Quy) rất phổ biến trong trang trí thời Nguyễn, nó biểu trưng cho sự giàu có, niềm vui hạnh phúc. Hoa sen được coi là biểu tượng của sự thanh khiết và tâm linh. Từ Ấn Độ, Trung Quốc, Nhật Bản đến Việt Nam, hoa sen đều mang trong mình những ý nghĩa sâu sắc.
Thời Nguyễn là triều đại cuối cùng của nền phong kiến tự chủ ở Việt Nam,, là giai đoạn mỹ thuật phát triển và để lại nhiều di sản nơi các các di tích cổ với nghệ thuật chạm khắc trang trí mang đề tài đa dạng. Trong đó hoa văn hoa lá, thảo mộc hay sự biến điệu của các dạng thức hoa lá như tứ quý, tứ hựu… trở thành đề tài xuyên suốt tại các di tích, trang trí đồ thờ, trang trí triều phục… đem đến nguồn cảm hứng bất tận cho các thế sinh viên nghiên cứu, học tập mỹ thuật khai thác ở nhiều góc độ khác nhau.
Là một giảng viên giảng dạy tại khoa Mỹ thuật Ứng dụng, tôi nhận thức rõ vai trò của mỹ thuật cổ trong việc định hướng nghiên cứu cho sinh viên để thông qua các bài học các em có thêm hiểu biết về vốn cổ trong mỹ thuật thời Nguyễn để từng bước góp phần gìn giữu di sản mỹ thuật của cah ông.
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Đào Duy Anh (in 1938), tái bản, Việt Nam văn hóa sử cương, Nxb Văn hóa – Thông tin.
- Đào Duy Anh (2001), HánViệt từ điển, Nxb Khoa học xã hội.
- Đào Thị Thúy Anh (2019), Hoa văn tứ quý trong mỹ thuật thời Nguyễn, Nxb Lao động – Xã hội.
- Ban Tuyên giáo Thành ủy Hà Nội (2010), Kể chuyện ngàn xưaThăng Long – Hà Nội, Nxb Hà Nội.
- Nguyễn Du Chi (Hà Nội 2001), Trên đường tìm về cái đẹp của cha ông, Viện Mỹ thuật, Nxb Mỹ thuật.
- Phạm Thị Chỉnh (2008), Lịch sử Mỹ thuật Việt Nam, Nxb Sư phạm.
- Lê Văn Chưởng (1999), Cơ sở văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh.
- C.Scottlittleton (chủ biên), Huyền thoại thế giới, Nxb Mỹ thuật.
- Đỗ Bằng Doãn, Đỗ Trọng Huề (1992), Những đại lễ và vũ khúc của vua chúa Việt Nam, Nxb Văn học