VẬN DỤNG PHỐI HỢP CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC HÁT DÂN CA THANH HÓA TRONG HOẠT ĐỘNG NGOẠI KHÓA CHO HỌC SINH TRƯỜNG PHỔ THÔNG LIÊN CẤP QTHSCHOOL, THÀNH PHỐ THANH HÓA, TỈNH THANH HÓA
Nguyễn Thị Trà My
Học viên K20 – Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc
Trong giáo dục phổ thông hiện nay, việc đưa di sản văn hóa địa phương vào hoạt động ngoại khóa (HĐNK) góp phần mở rộng môi trường học tập, phát triển năng lực thẩm mỹ và bồi dưỡng tình yêu quê hương cho học sinh (HS). Dân ca Thanh Hóa, với những làn điệu gắn liền với lao động, sinh hoạt và lễ hội của cư dân xứ Thanh, là nguồn chất liệu giàu giá trị để tổ chức giáo dục âm nhạc theo hướng trải nghiệm. Trường Phổ thông liên cấp QTHSchool, thành phố Thanh Hóa, có định hướng giáo dục toàn diện và chú trọng tổ chức các hoạt động nghệ thuật, tạo điều kiện để HS THCS tiếp cận âm nhạc truyền thống. Tuy nhiên, đặc trưng về phát âm, luyến láy và diễn xướng của dân ca đòi hỏi sự phối hợp linh hoạt giữa các phương pháp dạy học. Xuất phát từ yêu cầu đó, bài viết này trình bày việc vận dụng phối hợp các phương pháp dạy học hát dân ca Thanh Hóa trong HĐNK cho HS Trường Phổ thông liên cấp QTHSchool, thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa.
1. Phương pháp nghe mẫu, truyền khẩu và thị phạm
Ở bước nghe mẫu, giáo viên (GV) cần lựa chọn bản thể hiện có chất lượng, ưu tiên giọng hát của nghệ nhân hoặc người am hiểu phong cách dân ca Thanh Hóa. HS nên được nghe toàn bộ bài để hình thành ấn tượng chung, sau đó nghe từng câu hoặc từng cụm ngắn để nhận biết cao độ, tiết tấu, điểm lấy hơi và vị trí luyến.
Phương pháp truyền khẩu được triển khai ngay sau bước nghe. GV hát từng câu ngắn, HS nghe và hát nhắc lại, sau đó nối dần thành cụm, đoạn và toàn bài. Trong quá trình này, GV không nên yêu cầu HS hát ngay với tốc độ hoàn chỉnh, mà cần điều chỉnh nhịp độ phù hợp để các em có thời gian ghi nhớ và sửa lỗi. Những chỗ khó về luyến, nhả chữ hoặc tiết tấu cần được tách riêng để luyện nhiều lần. Cách truyền dạy theo từng đơn vị nhỏ giúp HS tiếp nhận chính xác hơn và giảm cảm giác quá tải khi học bài mới.
Thị phạm được sử dụng để làm rõ những yếu tố mà lời giải thích khó truyền đạt đầy đủ. GV có thể trực tiếp làm mẫu tư thế, khẩu hình, cách lấy hơi, cách đặt âm, động tác phụ họa hoặc cách xử lý từng nét luyến.
Ba phương pháp này cần được sử dụng theo trình tự nghe – quan sát – bắt chước – điều chỉnh – hoàn thiện. Trong mỗi bước, GV cần tạo điều kiện để HS tự so sánh phần hát của mình với mẫu, từ đó phát hiện và sửa lỗi. Khi có điều kiện, việc mời nghệ nhân tham gia thị phạm sẽ giúp tăng tính xác thực và chiều sâu văn hóa của bài học. Cách phối hợp này phù hợp với HĐNK, vừa giữ được tinh thần truyền khẩu của dân ca, vừa hỗ trợ HS hình thành kỹ năng hát theo phong cách địa phương.
2. Phương pháp luyện tập và thực hành theo nhóm
Phương pháp này cũng tạo điều kiện để tăng thời lượng thực hành cho từng HS và hạn chế tình trạng một số em thụ động khi học theo hình thức cả lớp. GV cần chia nhóm theo quy mô vừa phải, có thể từ 4 đến 6 HS, đồng thời phân công nhiệm vụ cụ thể thay vì để tất cả các nhóm cùng hát lại toàn bài.
Việc phân nhóm cũng cần tính đến sự khác biệt về năng lực. HS có khả năng nghe và hát tốt có thể đảm nhận vai trò hỗ trợ bạn trong nhóm; HS có năng khiếu vận động có thể phụ trách động tác; HS có khả năng ngôn ngữ tốt có thể tham gia sáng tạo lời mới. Cách phân công này giúp mỗi em có vị trí rõ ràng trong hoạt động và giảm cảm giác bị bỏ lại phía sau. Trong quá trình luyện tập, GV nên di chuyển giữa các nhóm để quan sát, sửa lỗi và đặt câu hỏi gợi mở. Sau giai đoạn thực hành, các nhóm cần trình bày sản phẩm trước tập thể. HS còn lại quan sát theo tiêu chí đã thống nhất như đúng giai điệu, rõ lời, phối hợp tốt, có sắc thái và giữ đội hình. Phần phản hồi nên ngắn gọn, tập trung vào điểm đạt được và một vài nội dung cần điều chỉnh. GV giữ vai trò tổng hợp, định hướng để nhận xét mang tính hỗ trợ thay vì tạo áp lực.
3. Sáng tạo lời thơ mới vào làn điệu dân ca Thanh Hóa
Khi được đặt lời mới trên nền làn điệu quen thuộc, HS có cơ hội hiểu sâu hơn cấu trúc lời ca, nhịp điệu, cách gieo vần, cách nhả chữ và sắc thái biểu cảm của dân ca Thanh Hóa. Việc sáng tạo lời mới cần được tiến hành trên nguyên tắc tôn trọng làn điệu gốc. GV hướng dẫn HS giữ nguyên khung giai điệu, tiết tấu cơ bản, điểm nhấn âm nhạc, cách luyến láy và vị trí ngắt câu của bài dân ca. Phần lời mới có thể thay đổi nội dung, song phải phù hợp với số tiếng, thanh điệu, nhịp thơ và tinh thần thẩm mỹ của làn điệu. Đây là yêu cầu quan trọng, bởi dân ca Thanh Hóa có sự gắn bó chặt chẽ giữa tiếng nói, âm điệu và cách diễn xướng dân gian.
Để hoạt động sáng tạo lời thơ mới có tính cụ thể, GV cần lồng ghép ví dụ ngay trong quá trình hướng dẫn. Với bài Dệt cửi, câu gốc: “Tay mắc mà cửi ơ lên, ơ ta ngồi buồn, tay mắc mà cửi ơ lên”, GV có thể hướng dẫn HS đặt lời mới theo chủ đề học đường như: “Em bước vào lớp ơ vui, ơ bao điều mới, em bước vào lớp ơ vui”. Cách đặt lời này giữ được số tiếng tương đối gần với câu hát gốc, có âm mở ở vị trí ngân, phù hợp với sắc thái mềm mại, duyên dáng của làn điệu. Sau khi HS hoàn thành lời mới, GV nên tổ chức bước đọc lời theo tiết tấu rồi mới ghép với giai điệu. Cách làm này giúp các em kiểm tra độ phù hợp giữa số tiếng, dấu thanh, trường độ và vị trí luyến. Nếu xuất hiện từ khó ngân hoặc làm lệch trọng âm âm nhạc, GV hướng dẫn điều chỉnh bằng từ đồng nghĩa hoặc thay đổi trật tự câu. Hoạt động chỉnh sửa theo nhóm cũng tạo cơ hội để HS trao đổi, phản biện và lựa chọn phương án lời ca phù hợp hơn với sắc thái của Dệt cửi.
Ví dụ: DỆT CỬI
(Trích)
Ở đoạn tiếp theo của bài Dệt cửi, câu gốc: “Uốn tay ơi a cho mềm, dệt cửi mà cho nhanh”, GV có thể gợi ý HS chuyển thành lời mới: “Chúng em ơi a chăm ngoan, học bài mà cho nhanh”. Khi luyện tập, GV cho HS đọc lời mới theo tiết tấu trước, sau đó ghép vào giai điệu để kiểm tra độ khớp giữa thanh điệu, trường độ và điểm nhấn.
Với bài Đi gặt, câu gốc: “Bao giờ cho lúa bông vàng, để anh a đi gặt, ối a cho nàng mang cơm”, GV có thể hướng dẫn HS đặt lời mới theo nội dung tình yêu quê hương như: “Bao giờ quê Thanh thêm đẹp, để em a ca hát, ối a bên dòng sông Mã”. Lời mới cần giữ sắc thái thiết tha, mộc mạc, đồng thời lựa chọn các từ dễ ngân như “đẹp”, “hát”, “Mã” để thuận lợi khi xử lý hơi thở và luyến láy, đồng thời giúp HS cảm nhận rõ mối liên hệ giữa hình ảnh mùa gặt truyền thống với niềm tự hào về quê hương hôm nay.
Ví dụ: ĐI GẶT
Những ví dụ cụ thể trên giúp HS nhận ra quy luật cơ bản khi đặt lời mới: giữ khung giai điệu, chú ý số tiếng, chọn từ phù hợp với thanh điệu, đặt âm mở vào vị trí ngân dài và bảo đảm nội dung trong sáng, gần gũi với lứa tuổi. Khi HS được thực hành theo nhóm, mỗi nhóm có thể lựa chọn một chủ đề như mái trường, quê hương, thầy cô, tình bạn hoặc bảo vệ môi trường để sáng tạo lời mới. Sau khi hoàn thành, các nhóm trình bày sản phẩm, tự nhận xét và nghe GV góp ý về mức độ phù hợp giữa lời ca, giai điệu và phong cách dân ca Thanh Hóa. Quy trình thực hiện biện pháp này có thể triển khai theo các bước: nghe và hát lại làn điệu gốc; phân tích nội dung lời ca, số tiếng, nhịp thơ, vị trí luyến; xác định chủ đề sáng tạo lời mới; viết lời theo nhóm; đọc lời theo tiết tấu; ghép lời vào giai điệu; chỉnh sửa phát âm, nhả chữ và sắc thái; trình bày sản phẩm trước tập thể.
Biện pháp sáng tạo lời thơ mới vào làn điệu dân ca Thanh Hóa giúp HĐNK trở nên sinh động, gần gũi và có sức hấp dẫn hơn đối với HS THCS. Thông qua hoạt động này, HS được rèn luyện năng lực ngôn ngữ, năng lực âm nhạc, tư duy thẩm mỹ, khả năng hợp tác và sự tự tin khi trình bày. Qua đó, hoạt động sáng tạo lời mới góp phần tạo sự kết nối giữa di sản và đời sống đương đại, giúp HS chủ động tiếp nhận, thực hành và lan tỏa giá trị dân ca Thanh Hóa trong môi trường học đường.
Có thể nói, việc phối hợp phương pháp nghe mẫu, truyền khẩu, thị phạm, luyện tập nhóm và sáng tạo lời thơ mới tạo nên tiến trình dạy học phù hợp với đặc trưng dân ca Thanh Hóa và khả năng tiếp nhận của HS THCS. Mỗi phương pháp đảm nhận chức năng riêng nhưng cần được kết nối chặt chẽ, giúp HS tiếp nhận chính xác làn điệu, rèn luyện kỹ năng hát, phát triển năng lực hợp tác và chủ động sáng tạo. Khi được triển khai phù hợp trong HĐNK tại QTHSchool, cách tổ chức này góp phần nâng cao chất lượng thực hành âm nhạc, đồng thời bồi dưỡng ý thức trân trọng và gìn giữ di sản văn hóa quê hương.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Trần Ngọc Lan (2011), Phương pháp hát tốt tiếng Việt trong nghệ thuật ca hát, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
- Hoàng Long, Hoàng Lân (2005), Phương pháp dạy học âm nhạc, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Tố Mai (2024), Phương pháp dạy học theo phát triển năng lực, Tài liệu ban hành nội bộ Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương, Hà Nội.
- Nhóm Lam Sơn (Vũ Ngọc Khánh chủ biên) (1965), Dân ca Thanh Hóa, Nxb Văn học, Hà Nội.
- Nguyễn Thị Thanh Vân (2016), Dạy hát tổ khúc múa đèn Đông Anh cho học sinh Trường Trung học cơ sở Quang Trung, thành phố Thanh Hóa, Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Lý luận và phương pháp dạy học Âm nhạc, Trường ĐHSP Nghệ thuật Trung ương, Hà Nội.