NGHỆ THUẬT CHẠM KHẮC ĐỀN HAI BÀ TRƯNG
Học viên: Đoàn Thanh Hiền
K13 Lý luận và Phương pháp dạy học bộ môn Mĩ thuật
Đền Hai Bà Trưng (đền Hạ Lôi) tọa lạc tại thôn Hạ Lôi, xã Mê Linh, thành phố Hà Nội là di tích quốc gia đặc biệt phụng thờ hai vị nữ anh hùng dân tộc Trưng Trắc và Trưng Nhị. Ngôi đền là một quần thể kiến trúc gỗ truyền thống tiêu biểu của vùng đồng bằng Bắc Bộ với bố cục nội công ngoại quốc. Bên cạnh giá trị về lịch sử và kiến trúc, hệ thống chạm khắc gỗ tại đền là một bộ phận quan trọng tạo nên diện mạo thẩm mỹ của toàn bộ công trình. Các mảng chạm được xuất hiện phong phú trên nhiều cấu kiện như đầu dư, bẩy hiên, kẻ, cửa võng, khám thờ, hoành phi và câu đối. Với đề tài đa dạng cùng kỹ thuật thể hiện tinh xảo, hệ thống đồ án này phản ánh sâu sắc tư duy tạo hình và trình độ chế tác bậc thầy của nghệ nhân dân gian. Trên cơ sở khảo sát thực địa, bài viết tập trung làm rõ bốn đặc điểm nghệ thuật cốt lõi: kỹ thuật chạm khắc, tư duy bố cục, ngôn ngữ đường nét và cách xử lý hình mảng, không gian, từ đó khẳng định giá trị mỹ thuật giá trị mỹ thuật truyền thống của đền thờ Hai Hà Trưng, đồng thời góp phần khẳng định giá trị di sản văn hóa truyền thống.
Nghệ thuật chạm khắc gỗ tại đền Hai Bà Trưng là sự hội tụ đỉnh cao của tư duy tạo hình dân gian, kết tinh từ đôi bàn tay tài hoa và nhãn quan thẩm mĩ sắc sảo của các thế hệ nghệ nhân xưa. Bản sắc nghệ thuật độc đáo tại ngôi đền này không chỉ dừng lại ở vai trò trang trí, khỏa lấp khoảng trống kiến trúc mà đã vươn tầm thành những tác phẩm nghệ thuật độc lập, giàu tính biểu cảm thông qua bốn đặc điểm tạo hình dưới đây:
1. Kỹ thuật chạm khắc đa dạng và linh hoạt
Sức sống, sự tinh xảo và tính phong phú của các mảng chạm tại Đền Hai Bà Trưng được quyết định bởi việc áp dụng nhuần nhuyễn hệ thống kỹ thuật đục đẽo truyền thống. Nghệ nhân xưa không bó hẹp trong một phương pháp cố định mà kết hợp đồng thời từ chạm nông, chạm nổi đến chạm lộng và chạm bong kênh nhằm tối ưu hóa hiệu quả thẩm mỹ theo từng vị trí cấu kiện. Đối với các cấu kiện ngoại thất (như bẩy hiên, xà nách), do chịu ảnh hưởng trực tiếp của ánh sáng tự nhiên chiếu xiên, nghệ nhân ưu tiên sử dụng kỹ thuật chạm nổi và chạm nông. Các nhát đục dứt khoát, sắc gọn tạo ra đường gờ cùng mảng khối lồi lõm vừa phải, tận dụng tối đa ánh sáng mặt trời để tạo bóng đổ sắc nét, giúp người quan sát dù đứng từ xa vẫn có thể nhận diện rõ ràng hình khối nghệ thuật. Trái lại, tại không gian nội thất trang nghiêm (như cửa võng, khám thờ, các ô hộc trang trí đồ thờ), kỹ thuật chạm lộng (chạm thủng) kết hợp chạm bong kênh được đẩy lên tới đỉnh cao. Nghệ nhân đục rỗng xuyên thấu nền gỗ, bóc tách các tầng họa tiết thành hai đến ba lớp rõ rệt.
Hình 1. Kỹ thuật chạm lộng (chạm thủng) đục rỗng phần nền trên ô hộc trang trí nội thất Đền Hai Bà Trưng. (Ảnh: Tác giả, 2024)
Trên ô hộc trang trí nội thất (Hình 1), kỹ thuật chạm lộng được thể hiện rất rõ nét ở phần nền bao quanh hình tượng linh vật. Người thợ đã đục thủng hoàn toàn các khoảng âm bản, bóc tách khối hình linh vật ở trung tâm nổi hẳn lên khỏi bề mặt cấu kiện. Quan sát các đường viền gờ gỗ được đục xuyên thấu vào lòng thớ gỗ, có thể thấy rõ độ mở của không gian phía sau, tạo sự thông thoáng tuyệt đối cho mảng chạm. Việc đục rỗng và bóc tách nhiều lớp họa tiết rồng phượng ẩn hiện trong mây giúp xóa nhòa cảm giác nặng nề của những súc gỗ lim nguyên khối, biến các cấu kiện đồ thờ trở nên nhẹ nhàng, thanh thoát như những bức rèm hoa tinh xảo.
2. Tư duy bố cục chặt chẽ và linh hoạt
Trong nghệ thuật chạm khắc Đền Hai Bà Trưng, hai xu hướng bố cục chính là đăng đối và tự do luôn tồn tại song song, hỗ trợ lẫn nhau. Dù ở xu hướng nào, tính cân đối, sự ổn định thị giác và tính hài hòa tổng thể đối với cấu kiện kiến trúc luôn được nghệ nhân đặt lên hàng đầu. Bố cục đăng đối xuất hiện phổ biến trên các mảng chạm lớn ở vị trí trung tâm, trang trọng như đại tự, khám thờ hay phần chính giữa cửa võng. Các đồ án kinh điển như “Lưỡng long chầu nguyệt” hay “Long ly quy phụng” được sắp xếp đối xứng nghiêm ngặt qua trục chính giữa, giữ cho hai bên tả – hữu cân bằng tuyệt đối về trọng lượng thị giác. Cách xử lý này mang lại cảm giác trang nghiêm, tĩnh lặng, hoàn toàn phù hợp với không gian thờ cúng tôn nghiêm.
Hình 2. Bố cục đăng đối nghiêm ngặt trên bức cửa võng “Lưỡng long chầu nguyệt” tại Đền Hai Bà Trưng. (Ảnh: Tác giả, 2024)
Thể hiện rõ tư duy bố cục đăng đối là đồ án “Lưỡng long chầu nguyệt” trên trán cửa võng. Hình tượng mặt trời (nguyệt) tỏa tia lửa rực rỡ được đặt làm tâm điểm chính giữa. Hai thân rồng uốn lượn đối xứng qua trục dọc trung tâm, từ đầu rồng, râu râu, đến móng vuốt và các dải mây bao quanh hai bên tả – hữu đều đối ứng chặt chẽ về mặt tỷ lệ cũng như khối lượng thị giác, tạo nên vẻ đẹp trang trọng, uy nghiêm cho gian thờ. Bên cạnh đó, bố cục tự do được áp dụng linh hoạt trên các cấu kiện có hình dáng đặc thù, xéo lệch hoặc nhô ra như bẩy hiên, đầu dư, kẻ hiên hay các ô hộc nhỏ. Tại đây, nghệ nhân không rập khuôn máy móc mà nương theo hình dáng tự nhiên của khúc gỗ để sắp đặt họa tiết. Hình tượng rồng, phượng hay hoa lá được kéo dài, uốn lượn, co duỗi mềm mại. Hình tượng chính luôn chiếm diện tích lớn ở vị trí trang trọng, các họa tiết phụ như mây cuộn, sóng nước hay lá lật bao quanh lấp đầy khoảng trống, tạo thành một chỉnh thể khép kín, không rời rạc.
Hình 3. Bố cục tự do biến hóa theo khung hình trên ô hộc trang trí nội thất Đền Hai Bà Trưng. (Ảnh: Tác giả, 2024)
Trên ô hộc trang trí nội thất Đền Hai Bà Trưng, có thể thấy rõ nghệ nhân đã nương theo hình khối chữ nhật hẹp ngang của lòng ô gỗ để tổ chức mảng chạm. Họa tiết hình cầu tròn đặt làm trọng tâm ở chính giữa, trong khi hệ thống dải mây uốn lượn tự do co duỗi dạt sang hai bên, trải dài lấp đầy các khoảng trống góc của ô hộc. Mặc dù không chia trục đối xứng cứng nhắc, tổng thể mảng chạm vẫn đạt được sự hài hòa, liền mạch và nhịp nhàng với kết cấu gỗ bao quanh.
3. Ngôn ngữ đường nét biến hóa giàu nhịp điệu
Ngôn ngữ đường nét biến hóa là linh hồn, là công cụ trực tiếp diễn tả trạng thái, nhịp điệu và cảm xúc của các mảng chạm khắc tại Đền Hai Bà Trưng. Hệ thống đường nét chuyển động vô cùng biến hóa, tạo sự tương phản rõ rệt nhưng lại thống nhất một cách diệu kỳ trên từng súc gỗ. Hệ thống nét cong, là những đường nét tròn đầy, uyển chuyển, liên tục khi đặc tả những đám mây ngũ sắc cuồn cuộn, dải sóng nước nhấp nhô hay cánh hoa sen, đóa cúc mềm mại, thanh cao. Hệ thống nét thẳng, đối thoại trực tiếp với nét cong là những nét đục thẳng, vuông vức, dứt khoát và sắc sảo khi tạo hình bờm rồng dựng ngược, móng vuốt sắc lạnh, gân lá, gân mây hay các họa tiết hình học chữ Vạn, chữ Công cổ kính. Chính sự tương phản giữa mềm mại và gai góc, giữa tĩnh và động này đã tạo nên một nhịp điệu thị giác sinh động, dẫn dắt mắt người xem di chuyển liên tục trên bề mặt tác phẩm mà không gây nhàm chán, đồng thời đẩy tính trang trí mỹ thuật dân gian lên mức cực đại.
Hình 4. Sự kết hợp giữa nét cong uyển chuyển và nét đục dứt khoát trên chi tiết chạm khắc hình tượng Rồng tại Đền Hai Bà Trưng. (Ảnh: Tác giả, 2024)
Quan sát cận cảnh chi tiết hình tượng Rồng trên mảng chạm, sự tương phản và nhịp điệu đường nét thể hiện rất rõ nét. Thân rồng uốn lượn hình chữ S cùng các dải mây cuộn xung quanh được tạo dựng từ những đường nét cong mềm mại, tròn đầy và êm nhẹ. Ngược lại, các chi tiết như bờm rồng, dải vây lưng, móng vuốt và các gờ viền lại được tạc bằng những vệt đục thẳng, vuông vức, gai góc và dứt khoát. Sự nhấn nhả đan xen giữa nét mềm của thân khối và nét sắc của các gờ chi tiết giúp cho hình tượng rồng trở nên vừa uyển chuyển, vừa giữ được sự uy nghiêm, khỏe khoắn.
4. Cách xử lý hình mảng và không gian đa tầng
Một đặc điểm tạo hình đặc sắc trong di sản chạm khắc tại Đền Hai Bà Trưng là cách xử lý mối quan hệ giữa hình mảng và không gian đa tầng của nghệ nhân dân gian. Nghệ thuật chạm khắc ở đây thực chất là sự giải quyết hài hòa mối quan hệ giữa mảng đặc và mảng rỗng, giữa phần dương (khối nổi) và phần âm (nền đục sâu). Bằng việc lợi dụng độ dày thực tế của tấm gỗ, người thợ xưa đã bóc tách bề mặt thành nhiều lớp cao thấp khác nhau, kiến tạo nên một không gian đa tầng có chiều sâu thị giác ấn tượng. Khi ánh sáng tự nhiên ban ngày hoặc ánh sáng đèn nến trong đền chiếu vào, sự nhô cao thấp của các mảng hình tự động tạo ra những vùng sáng – tối cùng các khoảng bóng đổ đậm – nhạt tinh tế. Biện pháp này giúp các hình tượng rồng, phượng hay cỏ cây trở nên sống động, gợi cảm giác chuyển động và biến đổi diện mạo theo từng góc nhìn cũng như thời điểm chiếu sáng trong ngày.
Hình 4. Nghệ thuật xử lý không gian đa tầng và mảng hình chồng xếp trên ô chạm Tứ Linh tại Đền Hai Bà Trưng. (Ảnh: Tác giả, 2024)
Trên ô chạm Tứ Linh tại Đền Hai Bà Trưng, cách xử lý không gian đa tầng được thể hiện rõ qua sự phân lớp hình mảng. Ở tầng trên cùng (lớp nổi cao nhất), hình tượng Rồng và Phượng được đục bong khối, vươn hẳn ra phía ngoài. Tầng giữa là hình tượng Kỳ Lân và Rùa (Quy) cùng dải mây uốn lượn được tạo tác ở độ nông vừa phải. Tầng sâu nhất là khoảng nền âm được hạ thấp và đục thủng nhẹ ở các khe kẽ. Sự đan xen giữa các lớp mảng đặc của linh vật và các khoảng rỗng của nền giúp mảng chạm không bị đặc ngạt, đồng thời tạo ra hiệu ứng bóng đổ tự nhiên, đẩy sâu chiều sâu ảo ảnh của tác phẩm. Sự kết hợp hoàn hảo giữa kỹ thuật đục chạm linh hoạt, tư duy bố cục chặt chẽ, ngôn ngữ đường nét biến hóa và cách xử lý hình mảng đa tầng đã tạo nên diện mạo thẩm mỹ độc đáo, khẳng định giá trị nghệ thuật đặc sắc riêng biệt của di sản chạm khắc gỗ tại Đền Hai Bà Trưng.
Có thể nói, nghệ thuật chạm khắc gỗ tại Đền Hai Bà Trưng là một minh chứng sinh động cho tài năng, trí tuệ và tư duy thẩm mỹ vượt trội của các nghệ nhân dân gian truyền thống. Qua việc nghiên cứu chi tiết hệ thống hoa văn trang trí và đồ thờ tại di tích, có thể đưa ra một số kết luận chính. Về giá trị tạo hình và kỹ thuật, di sản chạm khắc tại đền đạt đến sự chín muồi về mặt tạo hình nhờ sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa các kỹ thuật đục đẽo truyền thống (chạm nông, chạm nổi, chạm lộng, chạm bong kênh). Tư duy tổ chức bố cục chặt chẽ – dung hòa giữa tính đăng đối nghiêm cẩn của không gian thờ tự và tính tự do linh hoạt theo dáng gỗ- đã tạo nên sự hài hòa tổng thể cho kiến trúc. Sự đan xen giữa hệ thống nét cong uyển chuyển và nét đục dứt khoát, cùng cách xử lý không gian đa tầng sáng – tối, đã xóa bỏ cảm giác nặng nề của chất liệu gỗ, mang lại hiệu ứng thị giác nhẹ nhàng, thanh thoát và giàu nhịp điệu. Về giá trị biểu tượng và văn hóa, hệ thống đồ án trang trí như “Lưỡng long chầu nguyệt”, “Tứ linh”, “Tứ quý” hay các họa tiết mây nước, hoa lá không chỉ đơn thuần mang tính trang trí mỹ thuật mà còn gửi gắm những ước vọng cầu mong mưa thuận gió hòa, quốc thái dân an, thể hiện lòng tri ân sâu sắc của thế hệ sau đối với công đức của Hai Bà Trưng. Về ý nghĩa bảo tồn, trong bối cảnh hiện đại, việc nhận diện, phân tích và hệ thống hóa các đặc điểm nghệ thuật tạo hình trên chạm khắc gỗ tại Đền Hai Bà Trưng không chỉ góp phần khẳng định giá trị lịch sử – văn hóa – nghệ thuật của di tích quốc gia đặc biệt này, mà còn cung cấp cơ sở khoa học, nguồn tư liệu thực tiễn tin cậy cho công tác trùng tu, bảo tồn di sản và truyền cảm hứng cho các sáng tạo mỹ thuật ứng dụng đương đại.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Trần Lâm Biền (2011), Trang trí trong mỹ thuật truyền thống của người Việt, Nxb Văn hóa dân tộc, Hà Nội.
- Nguyễn Văn Cương (2006), Mỹ thuật đình làng đồng bằng Bắc Bộ, Nxb Văn hóa – Thông tin, Hà Nội.
- Trần Đình Tuấn (2012), “Bài học từ giá trị nghệ thuật chạm khắc đình làng”, Tạp chí Di sản Văn hóa, (số 41), tr. 83-88.