Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương logo

KHƠI NGUỒN HỨNG THÚ HỌC TẬP MÔN MĨ THUẬT CHO HỌC SINH TRUNG HỌC CƠ SỞ THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC   

Học viên: Vũ Thị Hạnh Quyên
K16 Lý luận và phương pháp dạy học bộ môn Mĩ thuật

     Trong bối cảnh giáo dục hiện đại ngày nay, hứng thú trong học tập được xem là động lực quan trọng giúp học sinh (HS) chủ động khám phá, tìm hiểu, chiếm lĩnh tri thức. Trong dạy học Mĩ thuật, hứng thú trong học tập chính là ngọn lửa để thúc đẩy sự tích cực say mê của các em, là động lực quan trọng góp phần hình thành và phát triển các năng lực thẩm mĩ. Thực tế giảng dạy cho thấy lứa tuổi THCS đang ở giai đoạn có nhiều thay đổi về tâm sinh lý. Các em thích được thể hiện bản thân, yêu thích cái mới nhưng cũng dễ bị chi phối bởi áp lực học tập và các thiết bị công nghệ. Vì vậy, việc khơi nguồn hứng thú trong dạy học Mĩ thuật theo hướng phát triển năng lực cho HS THCS không chỉ giúp nâng cao chất lượng giờ học mà còn góp phần phát triển năng lực thẩm mỹ, tư duy sáng tạo và những phẩm chất cần thiết cho cuộc sống. Bài viết này trao đổi về vai trò của hứng thú học tập đối với học sinh THCS, đồng thời giới thiệu một số biện pháp khơi nguồn hứng thú trong dạy học Mĩ thuật theo định hướng phát triển năng lực.

 1. Tầm quan trọng của hứng thú với học sinh trong học tập môn Mỹ thuật

     1.1. Hứng thú học tập là gì?

     Hứng thú là trạng thái tâm lý đặc biệt, biểu hiện ở sự cảm nhận lôi cuốn, hấp dẫn và thu hút mạnh mẽ của một đối tượng hay một hoạt động nào đó đối với bản thân chủ thể. Khi có hứng thú, cá nhân sẽ nảy sinh các hành động tích cực như chủ động tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi để lĩnh hội tri thức và đạt được kết quả tối ưu. Trong quá trình dạy học, hoạt động chiếm lĩnh kiến thức của học sinh đóng vai trò trung tâm; tuy nhiên, hoạt động này chỉ thực sự hiệu quả khi có sự đồng hành của niềm đam mê.

     Môi trường giáo dục chính là cái nôi để hứng thú được hình thành, duy trì và phát triển. Đặc biệt, trong môn Mĩ thuật, hứng thú gắn liền với các hoạt động trải nghiệm thẩm mĩ, các hoạt động nghệ thuật liên quan trực tiếp đến cảm xúc, cái hay và cái đẹp.hứng thú là cảm nhận sự lôi cuốn, hấp dẫn, thu hút của một đối tượng, hoạt động nào đó… đối với bản thân một ai đó. Từ đó cá nhân đó sẽ có những hoạt động tích cực như tìm tòi, nghiên cứu, học hỏi… để lĩnh hội tri thức và đạt được kết quả tốt nhất. Bàn về mối quan hệ giữa hứng thú và việc phát huy tiềm năng con người, nhà giáo dục người Nga Xô-lô-vây-trich khẳng định trong tác phẩm của mình: “Bằng cách phát triển hứng thú đối với các hình thức hoạt động khác nhau, chúng ta sẽ phát huy được một trong những năng lực quý giá nhất, cao quý nhất của con người là năng lực thích thú, tập trung vào hoạt động, hoàn toàn say mê với công việc cần làm” [9, tr.74].

     1.2. Biểu hiện hứng thú học tập Mĩ thuật ở học sinh Trung học cơ sở

     Hứng thú được biểu hiện qua nhiều thuộc tính khác nhau như: xúc cảm, tình cảm, ý chí, thái độ, nhu cầu, năng lực, kiên trì, quan tâm… chứ không phải là một thuộc tính tâm lí riêng lẻ, hứng thú có thể được biểu hiện bên ngoài và biểu hiện bên trong. Trong quá trình dạy học, GV có thể biết được hứng thú của HS thông qua những biểu hiện sau:

     Biểu hiện bên ngoài của HS biểu hiện qua nét mặt, giọng nói, thái độ và hành vi. Ánh mắt rạng ngời, thường mở to khi nghe GV giảng bài, nhíu mày trán nhăn lại khi suy nghĩ để giải quyết vấn đề, hay cười, miệng mở rộng ngạc nhiên. Giọng nói hồ hởi, ồ lên khi có một vấn để hấp dẫn được đưa ra… Thái độ, hành động phấn khích, vui vẻ như khoa tay, múa chân, tán thưởng, hạnh phúc, sau khi hoàn thành buổi học.

     Biểu hiện bên trong của HS khi ở lớp như tích cực phát biểu ý kiến xây dựng bài, chủ động tham gia các hoạt động nhóm, say mê thực hành, không ngại thử nghiệm những cách tạo hình mới và tự tin trình bày ý tưởng của mình trước tập thể. Các em còn chủ động tìm hiểu thêm về nghệ thuật thông qua sách, internet, bảo tàng hoặc các cuộc triển lãm; tích cực tham gia các cuộc thi vẽ tranh và hoạt động trải nghiệm do nhà trường, địa phương tổ chức. Khi ở nhà, những HS có hứng thú thường chủ động làm bài tập đầy đủ, tìm kiếm thêm các tài liệu tham khảo, thích thực hành, sáng tạo thêm.

     Từ đó GV có thể dựa vào những biểu hiện này để biết được HS có hứng thú trong học tập không. Qua đó có những giải pháp thích hợp nhằm nâng cao, đưa HS từ hứng thú tự phát sang hứng thú tự giác, khơi dậy niềm yêu thích đối với môn Mĩ thuật.

     1.3. Tác dụng của hứng thú đối với học sinh trong học tập Mĩ thuật

  • Kích thích hoạt động: phát huy tính tích cực, tự giác của học sinh

     Hứng thú là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tính tích cực, tự giác của người học. Khi học sinh có hứng thú, các em sẵn sàng đầu tư thời gian, công sức để hoàn thành nhiệm vụ học tập, tích cực trao đổi với giáo viên và bạn bè, đồng thời kiên trì tìm tòi, sáng tạo trong quá trình thực hành. Trong môn Mĩ thuật, động lực học tập không xuất phát từ điểm số mà đến từ niềm vui khi được sáng tạo và được ghi nhận. Chính vì vậy, việc tạo hứng thú có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả của mỗi giờ học.

  • Góp phần hình thành và phát triển năng lực mĩ thuật

     Chương trình Giáo dục phổ thông 2018 xác định mục tiêu của môn Mĩ thuật là hình thành và phát triển ở học sinh năng lực thẩm mỹ thông qua các hoạt động quan sát, cảm thụ, sáng tạo và ứng dụng thẩm mĩ. Khi học sinh hứng thú học tập, các em quan sát tinh tế hơn, biết phân tích vẻ đẹp của sản phẩm nghệ thuật, mạnh dạn đưa ra ý tưởng sáng tạo và linh hoạt vận dụng kiến thức vào thiết kế, trang trí, tạo hình. Những năng lực này được hình thành tự nhiên thông qua quá trình trải nghiệm, thay vì chỉ tiếp nhận kiến thức một chiều. Đồng thời, thông qua các hoạt động Mĩ thuật, các em thêm yêu cái đẹp, trân trọng các giá trị văn hóa truyền thống và có ý thức giữ gìn môi trường sống thông qua các hoạt động sáng tạo nghệ thuật.

  • Gắn kiến thức với thực tiễn

     Điểm đặc trưng của môn Mĩ thuật là khả năng ứng dụng vào đời sống. Những kiến thức về bố cục, màu sắc, thiết kế, trang trí hay tạo hình đều có thể vận dụng vào không gian sống, trường học và cộng đồng. Khi học sinh nhận thấy những điều mình học có thể áp dụng để làm đẹp lớp học, thiết kế sản phẩm, trang trí không gian hay giới thiệu vẻ đẹp quê hương, các em sẽ cảm thấy môn học gần gũi và có ý nghĩa hơn.

2. Một số giải pháp khơi nguồn hứng thú học tập môn Mĩ thuật cho học sinh Trung học cơ sở

     2.1. Tạo tình huống khởi động hấp dẫn

     Để hiện thực hóa mục tiêu phát triển năng lực và tạo tâm thế hào hứng cho HS,

     việc đổi mới hoạt động khởi động đầu giờ học giữ vai trò quyết định. Hoạt động khởi động là mắt xích đầu tiên, nhằm thu hút sự chú ý, tạo tò mò và thiết lập một “sân chơi tư duy” để học sinh sẵn sàng kết nối kinh nghiệm cũ với kiến thức mới. Thay vì các hình thức kiểm tra bài cũ hay giới thiệu bài mang tính giáo điều, giáo viên cần tích cực áp dụng giải pháp: Sử dụng trò chơi tương tác trực quan và vận động thể chất nhẹ nhàng gắn liền với nội dung bài học. Đối với học sinh THCS, trò chơi khởi động cần có chiều sâu về tư duy nghệ thuật, ví dụ như: Trò chơi giải mã mảnh ghép lịch sử mĩ thuật, đuổi hình bắt chữ nghệ thuật, hoặc thi tài phác thảo nhanh theo nhóm dựa trên các từ khóa cảm xúc.

     2.2. Tăng cường trải nghiệm thực hành

     Mĩ thuật là môn học mang tính thực hành và sáng tạo cao. Vì vậy, để khơi dậy hứng thú học tập, giáo viên cần tạo điều kiện cho học sinh được trực tiếp trải nghiệm, khám phá và sáng tạo thông qua nhiều hình thức hoạt động khác nhau. Khi được tự tay tạo nên sản phẩm nghệ thuật, học sinh không chỉ ghi nhớ kiến thức sâu sắc hơn mà còn phát huy trí tưởng tượng, khả năng hợp tác và sự tự tin trong quá trình học tập. Trong thực tiễn dạy học, giáo viên có thể tạo hứng thú bằng cách gắn nội dung bài học với những trải nghiệm gần gũi.

     2.3. Gắn bài học với văn hóa địa phương

     Những trải nghiệm thực tế luôn tạo cảm hứng mạnh mẽ cho học sinh. Giáo viên (GV) có thể khai thác các giá trị văn hóa, lịch sử và nghệ thuật của địa phương để đưa vào bài học, tạo cơ hội cho HS tìm hiểu, ký họa và sáng tạo từ các di sản văn hóa như bảo tàng, tượng đài, chùa, nhà thờ cổ hay nghệ thuật khác. Những chuyến học tập trải nghiệm giúp học sinh quan sát trực tiếp, cảm nhận vẻ đẹp của quê hương và vận dụng vào các sản phẩm sáng tạo của mình.

     2.4. Ứng dụng công nghệ thông tin

     Việc sử dụng các nền tảng như Canva, Padlet, video tư liệu hay bảo tàng số giúp bài học trở nên trực quan và sinh động hơn. Học sinh có thể tìm kiếm ý tưởng thiết kế, tham quan các bảo tàng nổi tiếng trên thế giới hoặc giới thiệu sản phẩm của mình bằng hình thức trình chiếu. Sự kết hợp giữa nghệ thuật truyền thống và công nghệ hiện đại góp phần nâng cao hứng thú, đồng thời phát triển năng lực số cho học sinh.

     2.5. Đổi mới đánh giá

     Đánh giá trong môn Mĩ thuật không nên chỉ dựa vào mức độ đẹp hay khéo léo của sản phẩm mà cần chú trọng đến ý tưởng, quá trình thực hiện, khả năng hợp tác và sự tiến bộ của mỗi học sinh. Những lời động viên, nhận xét tích cực và cơ hội giới thiệu sản phẩm trước tập thể sẽ giúp học sinh thêm tự tin, mạnh dạn sáng tạo và yêu thích môn học hơn.

     Có thể nói, hứng thú học tập là tiền đề quan trọng để phát triển năng lực của học sinh trong môn Mĩ thuật. Khơi nguồn hứng thú trong học tập Mĩ thuật không chỉ tạo nên những tiết học sinh động, hấp dẫn mà còn là động lực giúp HS chủ động khám phá, sáng tạo ra những sản phẩm giàu tính nghệ thuật. Vì vậy, người dạy cần không ngừng thay đổi và sử dụng linh hoạt các phương pháp dạy học, cách tổ chức các hoạt động học tập sao cho phù hợp với đặc điểm tâm lí và nhu cầu của học sinh. Để từ đó khơi dạy niềm đam mê nghệ thuật ở các em và mỗi tiết học Mĩ thuật sẽ vun đắp cho cảm hứng học tập sáng tạo và phát triển toàn diện cho học sinh đáp ứng được yêu cầu đổi mới dạy học Mĩ thuật phát triển năng lực cho học sinh THCS trong Chương trình Giáo dục phổ thông 2018.

                                   

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Văn Cường & Bernd Meier (2012), Lý luận dạy học hiện đại – cơ sở đổi mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội.
  2. Phạm Thúy Hồng (2010), Một số biện pháp khơi dậy hứng thú học tập của học sinh, Nxb Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
  3. Lê Văn Hồng, Lê Ngọc Lan & Nguyễn Văn Thành (2007), Tâm lí học lứa tuổi và tâm lí học sư phạm, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội.
  4. Vũ Xuân Hùng (2012), Dạy học hiện đại và nâng cao năng lực dạy học cho giáo viên, Nxb Lao động xã hội.
  5. Nguyễn Thị Lan Phương (chủ biên), Trương Xuân Cảnh, Bạch Ngọc Diệp, Phạm Thị Bích Đào, Đỗ Tiến Đạt, Nguyễn Thị Hạnh, Đặng Thị Thu Huệ, Nguyễn Hồng Liên, Nguyễn Tuyết Nga, Đỗ Ngọc Thống & Nguyễn Thị Hồng Vân (2016), Chương trình tiếp cận năng lực và đánh giá năng lực người học, Nxb Giáo dục Việt
  6. Nguyễn Thị Minh Phương (2009). Báo cáo tổng kết đề tài Xây dựng khung năng lực của học sinh phổ thông Việt Nam, Viện
  7. Phạm Đức Quang (2014), Một số kinh nghiệm trong nước và quốc tế về dạy học theo định hướng hình thành và phát triển năng lực người học, Nxb Đại học Sư Phạm.
  8. Su-ki-na (Nguyễn Văn Diên dịch) (1975), Vấn đề hứng thú nhận thức trong khoa học giáo dục, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội, Hà Nội.
  9. Xô-lô-vây-trich, S. L. (Lê Khánh Trường dịch) (1975), Từ hứng thú đến tài năng, Nxb Phụ nữ, Hà Nội.