Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương logo

LỄ HỘI LÀNG CHUÔNG, XÃ THANH OAI, THÀNH PHỐ HÀ NỘI TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA GẮN VỚI LÀNG NGHỀ TRUYỀN THỐNG

                                         Nguyễn Thị Khánh Linh

                                                                    Học viên  ngành Quản lý văn hóa

                                                        Trường Đại học Sư phạm Nghệ thuật Trung ương

Hiện nay, trong xu hướng du lịch trải nghiệm bản địa, những điểm đến hội tụ di tích, lễ hội, nghề truyền thống và đời sống cộng đồng có điều kiện hình thành sản phẩm du lịch văn hóa đặc thù. Làng Chuông, xã Thanh Oai, thành phố Hà Nội là một trường hợp tiêu biểu nổi tiếng với nghề làm nón và hệ thống đình chùa Phương Trung, tín ngưỡng Thành Hoàng, lễ hội truyền thống và nhiều thực hành văn hóa cộng đồng. Tiềm năng của điểm đến này nằm ở khả năng kết nối lễ hội với làng nghề, trải nghiệm du khách, chuyển đổi số và vai trò chủ thể của cộng đồng. Từ không gian lễ hội đến nguồn lực du lịch văn hóa Lễ hội làng Chuông được tổ chức từ ngày 9 đến ngày 11 tháng Ba âm lịch định kỳ 5 năm tổ chức hội lớn với nghi thức rước. Không gian lễ hội gắn với đình, chùa Phương Trung, hệ thống thờ lục vị Thành Hoàng cùng các hoạt động tế lễ, rước, thổi cơm thi, cờ người, văn nghệ và trò chơi dân gian. Những yếu tố này liên kết với nghề làm nón, đời sống cộng đồng tạo không gian văn hóa tổng hợp, dưới góc độ du lịch, giá trị của làng Chuông nằm ở khả năng kết nối tài nguyên trong cùng một hành trình. Du khách có thể tham quan di tích, tìm hiểu tín ngưỡng, quan sát nghi lễ, tham gia hoạt động phần hội, gặp gỡ nghệ nhân và trải nghiệm tìm hiểu nghề nón. Đỗ Văn Tiên và cộng sự (2024) xem du lịch làng nghề là một dạng du lịch văn hóa khai thác đồng thời giá trị vật thể, phi vật thể và sản phẩm thủ công cách tiếp cận này phù hợp với làng Chuông.

Định hướng chính sách hiện nay cũng tạo cơ sở cho việc phát triển theo hướng này. Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2045 được phê duyệt tại Quyết định số 509/QĐ-TTg năm 2024 và điều chỉnh tại Quyết định số 374/QĐ-BVHTTDL năm 2026 nhấn mạnh phát triển du lịch theo chiều sâu, nâng cao chất lượng trải nghiệm và tăng liên kết giữa du lịch với văn hóa (Thủ tướng Chính phủ, 2024; nghiên cứu tại làng bánh tráng Hòa Đa cho thấy du lịch cộng đồng ở làng nghề cần sự phối hợp giữa chính quyền, người dân và các chủ thể kinh doanh, đồng thời bảo đảm cân bằng lợi ích kinh tế, văn hóa và môi trường (Phan Thị Thùy Linh, Nguyễn Thùy Vân & Đoàn Thị Như Hoa, 2024).

Hiện nay, làng Chuông có cơ sở để phát triển như một không gian du lịch văn hóa tích hợp. Trong dịp lễ hội, nón Chuông được trưng bày, giới thiệu nghệ nhân tham gia trình diễn, chia sẻ kỹ thuật, người dân và du khách có cơ hội tìm hiểu quy trình làm nón. Để nghề nón trở thành sản phẩm du lịch, hoạt động trải nghiệm cần có nội dung và trình tự rõ ràng. Du khách có thể được giới thiệu lịch sử làng nghề, tìm hiểu nguyên liệu và công cụ, quan sát các công đoạn, nghe nghệ nhân kể chuyện nghề, thử một thao tác phù hợp như khâu hoặc trang trí nón, sau đó tham quan không gian trưng bày sản phẩm. Cách tổ chức này giúp du khách hiểu chiếc nón như kết quả của tri thức và kỹ năng cộng đồng, không chỉ là món quà lưu niệm. Với làng Chuông, sản phẩm trải nghiệm nên dựa trên năng lực thật của nghệ nhân và hộ làm nghề, tránh trình diễn tách rời đời sống sản xuất. Bên cạnh đó, trải nghiệm du khách qua dữ liệu khảo sát của tác giả tại địa bàn cho thấy 75% trong mẫu 100 người được hỏi mong muốn quay lại lễ hội trong những năm tiếp theo, trong khi 25% không có nhu cầu quay lại. Kết quả này cho thấy sự hấp dẫn của lễ hội, nhưng khả năng quay lại của khách vẫn phụ thuộc vào chất lượng tổ chức điểm đến. Phát triển du lịch tại làng Chuông không nên chỉ dừng ở việc tăng hoạt động trong những ngày hội mà các yếu tố như bãi đỗ xe, biển chỉ dẫn, vệ sinh môi trường, an toàn, điểm nghỉ, không gian trưng bày và sự minh bạch về giá dịch vụ đều ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm. Nội dung thuyết minh cũng cần ngắn gọn và kết nối di tích, lễ hội trong đó đặc biệt nghề truyền thống nón thành một câu chuyện dẫn khách du lịch có ý định quay trở lại. Kết quả khảo sát cũng tương đồng với ý kiến của người dân địa phương về hướng phát huy giá trị lễ hội. Khi được phỏng vấn tại Lễ hội truyền thống làng Chuông ngày 26/4/2026 về vấn đề còn tồn tại trong Lễ hội truyền thống làng Chuông, bà B.T.K. Anh (thôn Hoạch An, xã Thanh Oai, Hà Nội) cho rằng: Một số thời điểm đông khách nhất là khi tổ chức hội thi thổi cơm diễn ra thì vẫn xảy ra ùn tắc giao thông, các bãi đỗ xe đều quá tải, còn tình trạng bán hàng lấn chiếm và một số mặt hàng bán giá đắt hơn bình thường, theo tôi cần quản lý chặt hơn về các dịch vụ trong lễ hội. Ý kiến này cho thấy phát triển du lịch từ lễ hội không chỉ phụ thuộc vào sức hấp dẫn của di sản mà cần đồng thời cải thiện hạ tầng, tăng cường quản lý dịch vụ và chất lượng phục vụ để phát triển du lịch bền vững.

Trong bối cảnh hiện nay, chuyển đổi số để nâng cao tiếp cận điểm đến qua dữ liệu số, mã QR, bản đồ số, video quảng bá và nền tảng du lịch số. Hệ thống mã QR Việt – Anh tại đình, chùa, khu vực lễ hội và các điểm nghề có thể cung cấp thông tin về lịch sử di tích, nghi lễ, nghệ nhân, công đoạn làm nón, bản đồ tuyến tham quan và quy tắc ứng xử tại không gian tín ngưỡng. Bản đồ số giúp định vị điểm tham quan; video ngắn về nghệ nhân, hội thổi cơm thi hay câu chuyện người dân hỗ trợ khách tìm hiểu trước chuyến đi. Cách làm này phù hợp với định hướng nâng cao chất lượng trải nghiệm trong Quy hoạch hệ thống du lịch đã được điều chỉnh năm 2026 (Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, 2026). Nội dung số cần kể một câu chuyện thống nhất về con người, di sản và nghề nón, thay vì chỉ thông báo lịch lễ hội. Bên cạnh đó, nhiệm vụ bảo tồn và vai trò cộng đồng điều kiện của phát triển bền vững, Phát triển du lịch từ lễ hội luôn đặt ra yêu cầu cân bằng giữa khai thác và bảo tồn. Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15, có hiệu lực từ ngày 01/7/2025, cùng Nghị định số 308/2025/NĐ-CP tiếp tục khẳng định trách nhiệm của Nhà nước, cộng đồng, tổ chức và cá nhân trong bảo vệ, thực hành và phát huy giá trị di sản (Quốc hội, 2024; Chính phủ, 2025). Nghiên cứu của Võ Hữu Hòa (2024) về các làng nghề truyền thống ở Hội An cho thấy du lịch có thể đem lại lợi ích kinh tế nhưng cũng làm gia tăng thương mại hóa văn hóa nếu phát triển thiếu kiểm soát. Với làng Chuông, các nghi lễ và không gian thiêng phải được tôn trọng như một phần đời sống văn hóa của cộng đồng, không gian làng Chuông cần tránh sân khấu hóa nghi lễ hoặc biến trải nghiệm nghề thành hoạt động minh họa đơn giản. Nghệ nhân, người cao tuổi, người thực hành nghi lễ và các hộ làm nghề cần được tham gia từ khâu lựa chọn nội dung, thiết kế trải nghiệm đến tổ chức và phân chia lợi ích. Hướng phù hợp là phát triển sản phẩm ở quy mô vừa phải nhưng có chiều sâu tạo thành tuyến di tích và trải nghiệm làng nghề, trải nghiệm làm nón theo nhóm nhỏ gắn với chương trình giáo dục di sản, hoạt động kể chuyện nghề, không gian giới thiệu sản phẩm có nguồn gốc rõ ràng, kết hợp truyền thông số để mở rộng tiếp cận. Khi đó, du lịch trở thành kênh hỗ trợ quảng bá và tạo thêm nguồn lực cho cộng đồng thay vì làm thay đổi lễ hội hay nghề truyền thống.

Lễ hội làng Chuông có tiềm năng phát triển du lịch văn hóa bởi sự hội tụ của di tích, tín ngưỡng, lễ hội, nghề truyền thống làm nón và đời sống cộng đồng trong cùng một không gian. Tiềm năng đó khi chuyển thành sản phẩm bền vững khi các yếu tố được tổ chức thành hành trình trải nghiệm có logic, chất lượng dịch vụ được cải thiện, công nghệ số hỗ trợ tiếp cận thông tin và cộng đồng giữ vai trò chủ thể. Các định hướng mới về quy hoạch du lịch và phát triển làng nghề của Hà Nội tạo thêm cơ sở thuận lợi, nhưng bản sắc văn hóa vẫn phải là giới hạn đồng thời là lợi thế cạnh tranh quan trọng nhất của điểm đến. Phát triển theo hướng này sẽ giúp làng Chuông bảo tồn giá trị của lễ hội và nghề nón trong đời sống đương đại, vừa hạn chế nguy cơ thương mại hóa làm suy giảm chính nguồn lực tạo nên sức hấp dẫn lâu dài và phát triển bền vững trong bối cảnh hiện nay.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

  1. Đỗ Văn Tiên, Nguyễn Thị Bé Ba, Nguyễn Hoàng Hồng Bửu, Hồ Thị Trúc Ly & Trần Gia Lạc (2024), “Research Trends in Craft Village Tourism: Theoretical and Practical Approaches”, The Fourth International Conference on Innovations in Social Sciences Education and Engineering (ICoISSEE-4).
  2. Phan Thị Thùy Linh, Nguyễn Thùy Vân & Đoàn Thị Như Hoa (2024), “Community Based Tourism Management Model in the Hoa Da Rice Paper Craft Village Vietnam”, Journal of Social Transformation and Education, 4(4), 1–11, DOI: 10.54480/b7tty752.
  3. Võ Hữu Hòa (2024), “Cultural Changes in Traditional Craft Villages of Hoi An under the Impact of Tourism”, Central Vietnamese Review of Social Sciences, 85(4).
  4. Quốc hội (2024), Luật Di sản văn hóa số 45/2024/QH15 ngày 23/11/2024.
  5. Chính phủ (2025), Nghị định số 308/2025/NĐ-CP ngày 28/11/2025 quy định chi tiết một số điều và biện pháp tổ chức, hướng dẫn thi hành Luật Di sản văn hóa.
  6. Thủ tướng Chính phủ (2024), Quyết định số 509/QĐ-TTg ngày 13/6/2024 phê duyệt Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2045.
  7. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch (2026), Quyết định số 374/QĐ-BVHTTDL ngày 28/2/2026 phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch hệ thống du lịch thời kỳ 2021–2030, tầm nhìn đến năm 2045.
  8. UBND thành phố Hà Nội (2025), Quyết định số 282/QĐ-UBND ngày 15/01/2025 phê duyệt Đề án tổng thể phát triển làng nghề trên địa bàn thành phố Hà Nội giai đoạn 2025–2030, tầm nhìn đến năm 2050.