RÈN LUYỆN KỸ THUẬT CHƠI SÁO RECORDER CHO HỌC SINH LỚP 4
Kiều Văn Nhân
Học viên K20 – Lý luận và Phương pháp dạy học Âm nhạc
1. Mở đầu
Kỹ thuật chơi sáo recorder giữ vai trò nền tảng trong quá trình hình thành và phát triển năng lực biểu diễn nhạc cụ của học sinh (HS). Việc rèn luyện kỹ thuật không chỉ giúp HS tạo ra âm thanh đúng, đẹp, hay, ổn định mà còn góp phần nâng cao khả năng cảm thụ âm nhạc, phát triển kỹ năng phối hợp vận động, tăng cường sự tự tin trong các hoạt động biểu diễn. Dựa trên mục tiêu đào tạo và đặc điểm tâm sinh lý của HS lớp 4, nội dung rèn luyện kỹ thuật bài viết tập trung vào các vấn đề: tư thế chơi sáo, cách cầm sáo, kỹ thuật ngón bấm và các kỹ thuật cơ bản như hơi thở, kỹ thuật đánh lưỡi đơn, legato, staccato, các kỹ thuật luyến, láy, rung và kỹ thuật ngân dài.
2. Nội dung
2.1. Tư thế, cách cầm sáo, ngón bấm kỹ thuật
Tư thế thổi sáo
Lúc thổi sáo, HS có thể đứng hoặc ngồi, hoặc vừa di chuyển, vừa diễn tấu trên sân khấu. Dù tư thế nào, thì cũng tạo thói quen có tư thế thoải mái. Để thực hiện tư thế đúng, yêu cầu HS giữ lưng thẳng và cổ thẳng, tránh nghiêng người sang trái hoặc sang phải. Không khom lưng, rướn cổ, hoặc gồng vai, hai chân đặt vững trên mặt đất, giúp luồng hơi ổn định, tạo âm thanh tròn, vang và trong trẻo. Việc hình thành tư thế đúng giúp HS duy trì kỹ thuật ổn định trong toàn bộ quá trình học tập.
Cách cầm sáo và định vị sáo
Để có cách cầm sáo đúng, Giáo viên (GV) hướng dẫn HS, tay trái đặt ở phía trên và tay phải ở phía dưới. Ngón cái của tay trái đặt vào lỗ 0 sau cây sáo, các ngón tay cong tự nhiên, không gồng cứng, cổ tay giữ thẳng, không bẻ gập hoặc tỳ mạnh vào thân sáo. Thứ tự các ngón bấm của 2 tay như sau: Tay trái đặt trên, ngón cái trái đặt vào lỗ 0, ngón trỏ, ngón giữa và ngón áp út che kín các lỗ 1, 2, 3. Ngón út thả lỏng, không bấm lỗ mà chỉ bấm hờ vào phần thân sáo, bàn tay cong nhẹ, cổ tay thả lỏng. Tay phải đặt bên dưới, ngón cái không bấm, mà đỡ sáo ở phần thân dưới, ngón trở, ngón giữa, ngón áp út và ngón út bấm các lỗ 4, 5, 6, 7. Phải che kín các lỗ bấm bằng đầu ngón tay, để tránh hiện tượng rò hơi.
Ngón bấm
HS lưu ý: mỗi nốt sẽ có một cách bấm ngón riêng, phải đặt ngón tay đúng vị trí, che kín các lỗ sáo, vị trí tiếp xúc chỉ dùng phần thịt đầu ngón tay. Bắt đầu luyện tập từ những nốt đơn lẻ, khi đã quen tay, sẽ chuyển sang các chuỗi nốt liền bậc. Hướng dẫn HS bấm, nhả, vuốt, đập, lướt ngón nhẹ nhàng, tránh động tác thừa hoặc gõ mạnh xuống lỗ sáo gây nhiễu âm. Giữ bàn tay thả lỏng, không nâng ngón quá cao, không cong hoặc gồng tay. Quá trình luyện ngón nên từ dễ đến khó, có thể kết hợp các bài luyện gam, luyện chuyển ngón để tăng tính linh hoạt và độ chính xác.
2.2. Kỹ thuật hơi thở, đánh lưỡi, legato, staccato, ngân dài, luyến, láy và rung
Kỹ thuật hơi thở
HS cần được rèn luyện hơi thở ở bụng (thở bằng cơ hoành) để tạo dòng hơi dài, đều và mềm mại. Hướng dẫn HS cách đặt hai môi chạm nhẹ vào đầu sáo. Môi dưới giữ cố định, môi trên bao nhẹ phần đầu sáo, không cắn mạnh, không ngậm sâu vào miệng để tránh tiếng sáo bị nghẹt. Tập lấy hơi bằng mũi và miệng, thổi hơi bằng miệng. Hướng dẫn HS tập các bài thở cơ bản:
Bài tập 1 – hít sâu: đặt tay lên bụng, hít vào chậm rãi để bụng phình ra, sau đó thở ra từ từ.
Bài tập 2 – thổi dài: Yêu cầu HS thổi một hơi dài trên một nốt, GV đo thời gian để khuyến khích HS tăng dần độ bền hơi.
Bài tập 3 – kiểm soát hơi: Yêu cầu HS tưởng tượng thổi vào ngọn nến nhưng không để bị tắt. Do đó HS cần biết điều chỉnh áp lực hơi phù hợp từng âm vực và từng yêu cầu biểu cảm của tác phẩm.
Đánh lưỡi: HS cần được làm quen với các kiểu đánh lưỡi đơn như tu, du, te, ka, ta… để tạo ra âm nét, rõ ràng. Để thực hiện được kỹ thuật đánh lưỡi, yêu cầu HS thực hiện: đặt đầu lưỡi chạm nhẹ vào răng trên, hoặc mặt sau răng cửa, phát âm tu – tu hay te – te. Để có thể thực hành tốt kỹ thuật này, cần tổ chức các bài tập đọc miệng, giúp HS ghi nhớ cảm giác đặt lưỡi và điều khiển hơi thở. Hướng dẫn HS đọc âm tu -tu, tu- tu hoặc te – te, te – te… với nhịp đều và chậm. Khi tập đọc thuần thục, cho HS áp dụng vào sáo với các tư thế, cách đặt môi đúng để thực hiện: lấy hơi thật sâu, thổi kết hợp đánh lưỡi phát âm tu – tu hoặc te – te trên một nốt đơn.
Legato, để thực hiện tốt kỹ thuật, hướng dẫn HS luyện tập như sau:
Bước 1, lấy hơi sâu và ổn định: HS hít hơi sâu bằng mũi và miệng vào bụng, sau đó giữ hơi trong 4 – 5 giây, tiếp theo thổi ra thật đều và chậm, không để hơi bị rung hoặc phập phồng.
Bước 2, giữ dòng hơi liền mạch: khi chuyển từ nốt này qua nốt khác tuyệt đối không ngắt hơi, hơi thở thổi ra như một đường thẳng.
Bước 3, hạn chế đánh lưỡi: để kỹ thuật có hiệu quả, hướng dẫn HS áp dụng vào bài tập thổi 3- 5 nốt liên tiếp chỉ bằng một hơi.
Staccato: Để tập kỹ thuật này, GV hướng dẫn HS theo các bước: Chuẩn bị tư thế đúng và hơi thở,; Hướng dẫn đánh lưỡi, cho HS quan sát âm đánh lưỡi GV làm mẫu, HS nghe: t – t – t – t. Đầu lưỡi bật xuống nhanh và dứt khoát để chặn hơi thở đột ngột, mỗi tiếng t là một lần đóng mở hơi thức thì.
Vuốt là kỹ thuật làm cho âm thanh chuyển dần từ nốt này qua nốt khác, tạo cảm giác âm thanh mềm, liền và uốn lượn. Để rèn luyện kỹ thuật vuốt trên sáo recorder GV hướng dẫn HS luyện tập các bài tập đơn giản sau:
Bài tập 1, vuốt từ một nốt lên nốt cao hơn, HS cần giữ hơi ổn định. Để thực hiện vuốt từ son lên la, hướng dẫn HS tay trái để ở thế bấm nốt son, thổi vào nốt son luồng hơi thật ổn định dài khoảng 2 – 3 phách, sau đó bắt đầu thực hiện tao tác vuốt. Tay trái mở từ từ lỗ 3, không nhấc lên đột ngột. Trong quá trình nhấc ngón âm thanh sẽ từ từ tăng dần cao độ, không thay đổi lực thổi trong suốt quá trình thực hiện vuốt. Khi ngón tay ở lỗ 3 mở hoàn toàn, âm thanh phát ra sẽ chuyển thành la.
Bài tập 2, vuốt từ một nốt xuống nốt thấp hơn. Hướng dẫn HS luyện tập thật chậm, thổi nốt la trong 2 – 3 phách, sau khi thổi được âm tròn, đều thì thực hiện vuốt từ nốt la xuống son như sau: bắt đầu hạ rất chậm ngón áp út của tay trái vào lỗ số 3, tuyệt đối không đập mạnh, sao cho ngón tay từ từ che kín lỗ số 3, âm ổn định sẽ là âm son.
Láy: có các dạng cơ bản sau:
Kỹ thuật láy nhanh, được thực hiện bằng cách chuyển ngón nhanh và liên tục giữa một nốt chính và một nốt phụ liền kề về cao độ. Hướng dẫn cho HS tập từ dễ đến khó, đảm bảo ngón linh hoạt, nhưng không bị cứng. Để thực hành kỹ thuật láy nhanh, GV hướng dẫn HS luyện tập các bước:
Bước 1, tập động tác nâng, hạ ngón chậm trên nốt La – Si. Hướng dẫn HS đặt tay vào thế bấm nốt la, nhấc ngón bấm nốt si lên và hạ xuống, lặp lại nhiều lần để quen ngón tay. Bước 2, tăng tốc độ nâng hạ ngón: khi thao tác nâng hạ ngón đã đúng, HS thực hiện: La – Si – La – Si – La – Si. Lưu ý, ngón không được nâng quá cao, chuyển động phải nhỏ – gọn. Bước 3, ghép ngón láy với hơi thổi giữ đều, ngón láy nhanh liên tục trong một trường độ (2 hoặc 4 phách).
Kỹ thuật láy đơn: là thao tác đảo nhanh từ nốt chính sang nốt phụ liền bậc, rồi quay trở lại ngay nốt chính. Để luyện tập kỹ thuật láy đơn, HS cần luyện tập theo các bước sau:
Bước 1, tập chuyển động ngón không rung hơi: Hướng dẫn HS đặt ngón ở nốt chính, sau đó nâng ngón của nốt phụ và hạ lại về nốt chính. Bước 2, ghép ngón với hơi thổi: lưu ý với HS về lực hơi thở thật đều, yêu cầu HS thổi nốt chính, chạm nhanh nốt phụ và trở lại kết thúc ở nốt chính. Bước 3, tăng tốc độ: sau khi đã thực hành tốt ở bước 1 và 2, hướng dẫn HS thực hiện tập nhanh dần lên, chuyển động ngón nhỏ, chú ý láy nhanh nhưng không được mất nốt chính. Lưu ý những lỗi thường gặp khi luyện tập kỹ thuật láy đơn: nâng ngón quá cao, láy quá chậm, hơi thổi mạnh khi láy, lưỡi đánh mạnh làm âm bị gắt, ngón che lỗ không kín khi láy xong trở lại nốt chính.
Rung: là kỹ, làm cho âm thanh dao động nhẹ nhàng, mềm mại bằng sự thay đổi nhỏ của hơi thở hoặc đầu lưỡi. Có nhiều phương pháp tạo rung trên sáo recorder là rung bằng hơi, rung bằng cổ, rung bằng lưỡi, tuy nhiên đối với HS lớp 4, chỉ nên hướng dẫn rung bằng hơi. Để luyện rung bằng hơi, cần hướng dẫn HS theo các bước như sau:
Bước 1, rung hơi không cần sáo. Hướng dẫn HS đặt tay lên bụng, lấy hơi thật sâu bằng mũi và miệng, đẩy hơi ra từ từ bằng các ngụm nhỏ, không phát ra tiếng, chỉ đẩy hơi. Bước 2, tập rung nhẹ trên một nốt dài, hướng dẫn HS chọn nốt si, thổi nốt dài với trường độ một nốt tròn, khi âm sáo ổn định bắt đầu rung hơi, đẩy từng ngụm nhỏ vào sáo. Trong quá trình luyện tập GV lưu ý với HS rung nhỏ và đều, không được rung nhanh ngày từ đầu. Bước 3, sau khi đã luyện tập thuần thục ở hai bước trên, hướng dẫn HS theo tuần tự: rung chậm, rung trung bình, rung nhanh.
3. Kết luận
Trên thực tế sáo recorder còn nhiều kỹ thuật như ngân dài, reo lưỡi, đánh lưỡi kép, miết ngón, đập ngón… mỗi kỹ thuật đều có yêu cầu riêng về hơi thở, ngón bấm, vị trí môi và khả năng kiểm soát âm thanh. Tuy nhiên, trong phạm vi dạy học sáo recorder cho HS lớp 4 thì việc lựa chọn các kỹ thuật phù hợp là điều cần dựa trên khả năng tiếp thu của HS. Vì vậy, ở đây chủ yếu tập trung vào những kỹ thuật cơ bản và một số những kỹ thuật trang trí đơn giản, phù hợp với đặc điểm của HS lớp 4.
TÀI LIỆU THAM KHẢO
- Bộ GD&ĐT (2024), Dạy học sáo Recorder trong nhà trường phổ thông, Nxb Giáo dục.
- Đỗ Thị Minh Chính (Tổng chủ biên kiêm chủ biên) (2024), Âm nhạc 4 trong bộ sách Kết nối tri thức với cuộc sống, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội.
- Hàn Thu Phương (2022), Dạy học sáo Recorder cho học sinh lớp 6, trường Tiểu học – THCS Pascal, Luận văn thạc sĩ Lý luận và phương pháp dạy học âm nhạc, Trường Đại học Nghệ thuật Trung ương, Hà Nội.
- Nguyễn Văn Nam (chủ biên) (2023), Tuyển tập bài tập và tác phẩm dành cho sáo Recorder, Nxb Giáo dục, Hà Nội.